Nhiều người học được hỗ trợ hiệu quả, nợ quá hạn thấp
Thời gian qua, Nhà nước luôn quan tâm, bố trí đầy đủ nguồn vốn cho vay theo nhu cầu của học sinh, sinh viên cũng như bố trí đầy đủ cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý để NHCSXH triển khai thực hiện.
Chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên hiện đang tiếp tục được triển khai thông qua chương trình tín dụng học sinh, sinh viên theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg, Quyết định số 05/2022/QĐ-TTg và chương trình cho vay học sinh, sinh viên, học viên thạc sĩ, nghiên cứu sinh học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán theo Quyết định số 29/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến ngày 31/7, tổng doanh số cho vay của chương trình cho vay học sinh, sinh viên theo Quyết định số 157 và Quyết định số 05 đạt 92.556 tỷ đồng; tổng doanh số thu nợ đạt 68.550 tỷ đồng; dư nợ đạt 23.993 tỷ đồng, với 347.631 hộ gia đình vay vốn.
Trong khi đó, đối với chương trình cho vay người học ngành STEM theo Quyết định số 29, tổng doanh số cho vay đạt 429 tỷ đồng; dư nợ đến ngày 31/7 đạt gần 425 tỷ đồng, với 6.305 hộ gia đình vay vốn. Dự kiến đến hết năm 2026, dư nợ của chương trình này đạt 855 tỷ đồng (tăng 139,5% so với năm 2025).
Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chính sách tín dụng dành cho học sinh, sinh viên được triển khai thông qua hệ thống NHCSXH, chính quyền địa phương và các cơ sở đào tạo; công tác tuyên truyền, phổ biến được thực hiện để người học thuộc đối tượng chính sách biết, đăng ký và thực hiện thủ tục vay vốn khi có nhu cầu. Quy mô doanh số cho vay, dư nợ và số hộ gia đình, khách hàng còn dư nợ cho thấy các chương trình tín dụng đã được triển khai với quy mô tương đối lớn, nhất là chương trình tín dụng học sinh, sinh viên theo Quyết định số 157 và Quyết định số 05.
Đồng thời cho thấy, các chương trình tín dụng đã đạt hiệu quả trong thực tiễn, góp phần hỗ trợ người học có hoàn cảnh khó khăn chi trả học phí, chi phí học tập và sinh hoạt, giảm áp lực tài chính cho hộ gia đình, hạn chế nguy cơ gián đoạn học tập do khó khăn kinh tế và bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh ở mức thấp, cho thấy chất lượng tín dụng của chương trình cơ bản được bảo đảm.
Riêng đối với chương trình tín dụng theo Quyết định số 29 với hơn 6.300 khách hàng vay vốn, bước đầu cho thấy người học các ngành STEM đã tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi phục vụ học tập, nghiên cứu. Có thể thấy chương trình đã thể hiện vai trò trong tạo thêm nguồn lực hỗ trợ người học trong các ngành, lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Về chất lượng tín dụng, chương trình cho vay học sinh, sinh viên theo Quyết định số 157 có tỷ lệ nợ quá hạn chỉ chiếm 0,27% tổng dư nợ của chương trình, là mức nợ quá hạn rất thấp. Còn đối với chương trình cho vay người học ngành STEM theo Quyết định số 29, chương trình này chưa phát sinh nợ khoanh và nợ quá hạn.
Xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông về người học và các chính sách hỗ trợ
Trong phát biểu tại Phiên giải trình do Quốc hội tổ chức hôm 20/9, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Thị Bích Ngọc đã đánh giá hiệu quả triển khai chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên. Thứ trưởng cho rằng các chương trình tín dụng hỗ trợ cho học sinh sinh viên có kết quả triển khai rất tích cực.
“Theo số liệu tổng hợp đến cuối tháng 6/2026, chương trình tín dụng học sinh, sinh viên có dư nợ hơn 24.000 tỷ đồng nhưng tỷ lệ nợ quá hạn thì rất thấp, chỉ có 0,27%”, Thứ trưởng Nguyễn Thị Bích Ngọc cho biết.
Đối với chương trình tín dụng cho người học các ngành STEM thì dư nợ là 423 tỷ đồng và chưa phát sinh nợ quá hạn và nợ khoanh. Thứ trưởng Nguyễn Thị Bích Ngọc đánh giá đây là chính sách và công cụ rất tốt để hỗ trợ công bằng trong tiếp cận giáo dục, vừa sử dụng cơ chế tín dụng chung nhưng cũng nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Trong thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo để tiếp tục nghiên cứu thêm các cơ chế chính sách cho chương trình.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho biết vẫn đang còn những vướng mắc, như việc hiện nay chưa xác định được chính xác tỷ lệ người học được vay trên tổng số người học đủ điều kiện hoặc có nhu cầu vay vốn. Vì vậy, việc đánh giá tỷ lệ tiếp cận chủ yếu được xem xét thông qua quy mô doanh số cho vay, dư nợ và số khách hàng còn dư nợ.
Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục phối hợp NHCSXH và các cơ quan liên quan rà soát, hoàn thiện số liệu để đánh giá đầy đủ hơn mức độ tiếp cận chính sách. Đối với chương trình tín dụng theo Quyết định số 29, số người học đủ điều kiện vay vốn còn hạn chế, trong đó có nguyên nhân từ điều kiện người học từ năm thứ hai trở đi phải có kết quả học tập năm học liền kề trước đó đạt loại giỏi.
Thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục phối hợp NHCSXH và các cơ quan liên quan đánh giá kết quả thực hiện, rà soát mức vay và điều kiện vay vốn, nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh phù hợp với thực tiễn nhằm nâng cao khả năng tiếp cận chính sách của người học.
Đánh giá mức độ tiếp cận và hiệu quả chính sách hỗ trợ nói chung đối với người học còn nhiều khó khăn do thiếu dữ liệu, Thường trực Ủy ban Văn hóa Xã hội của Quốc hội đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp Bộ Tài chính, NHCSXH và địa phương xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông về người học và các chính sách hỗ trợ, xác định rõ số người thuộc diện hưởng, số người có nhu cầu, số người đã được hưởng, số còn chưa được hưởng, mức hỗ trợ, thời gian chi trả và kinh phí còn thiếu; Trong đó, đối với tín dụng người học, cần thống kê tỷ lệ tiếp cận trên tổng nhu cầu, số người đủ điều kiện nhưng chưa vay, nguyên nhân không tiếp cận và mức vay bình quân so với chi phí học tập, sinh hoạt phí.