Chiếng chèo Nam nức danh thiên hạ

Nam Định là cái nôi của nghệ thuật truyền thống, trong đó không thể không nhắc đến nghệ thuật chèo như một thứ đặc sản của miền đất thuộc trấn Sơn Nam Hạ. Nam Định là trung tâm của chiếng chèo Nam, một trong tứ chiếng chèo nức danh thiên hạ.

Tứ chiếng chèo là cách phân chia không gian nghệ thuật chèo vùng châu thổ sông Hồng kể từ thế kỷ 15, khi chèo rời Kinh đô Thăng Long hoa lệ trở về vùng nông thôn khoáng đạt, rộng lớn chính là nơi khai sinh, khởi thủy của nghệ thuật này, đúng như lời người xưa nói, đi xa là để trở về.

Chiếng chèo là những phường chèo hoạt động trong một vùng văn hóa. Người ta phân vùng chèo châu thổ sông Hồng thành tứ chiếng là chèo Đông, chèo Đoài, chèo Nam, chèo Bắc tương ứng với tứ trấn Hải Đông, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc xung quanh Kinh đô Thăng Long. Mỗi chiếng có những ngón nghề riêng rất khó lưu truyền và lan tỏa sang miền đất khác do sự khác biệt trong phong cách nghệ thuật trên cơ sở dân ca, dân vũ và đặc trưng văn hóa bản địa của miền đất ấy.

Nếu chiếng chèo Đông với những làn điệu mang âm hưởng hát đúm, chiếng chèo Đoài mang âm hưởng của hát xoan, hát dô, dân ca Phú Thọ và cò lả, chiếng chèo Bắc mang âm hưởng của dân ca quan họ thì chiếng chèo Nam mang âm hưởng của hát chầu văn rõ rệt. Những làn điệu phổ biến của chiếng chèo Nam như Chèo quế hay Hà vị tả cảnh du thuyền thăm các danh lam ở Hà Nam, thắng cảnh ở Ninh Bình, Bà chúa con cua gắn với tín ngưỡng hầu bóng ở Nam Định, Nhịp đuổi gắn với tích trấn thủ Lưu Đồn ở Thái Bình hay các làn điệu độc đáo như Đò đưa, Đường trường thu không, Đường trường tải lương, Tình thư hạ vị...

Ngày xuân ta lần theo những làn điệu chèo để trở về với làng quê, nơi ta sinh ra, lớn lên rồi đi xa và suốt đời thương nhớ khôn nguôi về gốc rễ, cội nguồn. Ở đó có mẹ ta, bà ta, những cô đào, anh kép làng ta, những người đàn ông, đàn bà làng ta đã sinh ra những làn điệu chèo, hay những làn điệu chèo đã sinh ra họ. Họ đã mang những làn điệu chèo đi quai đê lấn biển, đẻ xóm sinh làng.

Những làn điệu chèo ngân lên và vang xa thì đất đai được mở ra mênh mang, bát ngát. Những làn điệu chèo như hạt thóc gieo xuống mọc thành cây mạ, cây mạ bén rễ, trổ đòng thành cây lúa trổ bông, sây hạt làm nên những vụ chiêm, vụ mùa nối nhau bất tận. Cho dù nắng cháy, cho dù mưa sa thì ta làm cho mưa thuận, gió hòa để câu chèo như hạt giống quý đựng trong quả bầu khô để trên gác bếp được truyền từ đời nay sang đời khác qua bao nhiêu thế hệ.

các ngh%3f si chèo nam ð%3fnh bi%3fu di%3fn trên chi%3fu chèo ngày xuân.jpg -0
Các nghệ sĩ chèo Nam Định biễu diễn trên chiếu chèo ngày xuân.

Đây rồi, ta bắt gặp cô gái trong bài thơ “Mưa xuân” của thi sĩ Nguyễn Bính. Một cô thôn nữ dệt lụa bên khung cửi quanh năm với mẹ già dưới mái tranh ở một làng quê Bắc bộ bình yên bao đời. Và bừng giữa màu trắng của cây lụa mới dệt xong, màu tím của hoa xoan trong mưa xuân, màu đỏ của đôi má thiếu nữ biết thầm thương, trộm nhớ một người con trai nho nhã, thư sinh là màu xanh của những làn điệu chèo trong canh hát hội làng thâu đêm, suốt sáng. Mỗi canh hát, mỗi tích trò không tính bằng thời gian trên đồng hồ, vì hồi đó đồng hồ chỉ có ở những nhà quyền quý, giàu có. Thời gian được tính bằng nén hương, tiếng gà. Hương tàn hết tích, gà gáy chuyển trò. Người xưa dạy rằng “có tích mới dịch nên trò”. Sau đọc chệch trò thành chèo là vậy. Người xem, người diễn tung hứng trong cơn ăn no bụng trống, uống say giọng chèo mà quên mất không gian và thời gian. Không gian ước lệ. Thời gian ngưng đọng. Chỉ còn nhân vật trên chiếu chèo. Nhân vật cách điệu. Chiếu chèo cuộc đời. Thành ra hương tắt cuốn tàn, gà gáy sang canh rồi trò diễn chưa hết nên chẳng ai muốn về.

Người ta có cảm tưởng những làn điệu chèo xanh như dải thắt lưng của cô đào chín bay lên phấp phới trong ngọn đông phong, xanh như đồng lúa đang thì con gái giữa tiếng cuốc kêu khắc khoải tháng ba. Màu xanh là màu của mùa xuân, của giêng hai, của tuổi trẻ, của tình yêu trai gái.

Và ở nơi “mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên, những hội hè đình đám” ấy thì hội làng không chỉ mở giữa mùa xuân với hoa xoan, mưa xuân, khung cửi mà còn mở giữa mùa thu với trời cao, gió cả, trăng như ban ngày. Và dù ở mùa nào, không gian nào thì những làn điệu chèo trong đêm hội làng vẫn là nét chấm phá đặc sắc, độc đáo trên bức tranh làng quê rộn rã âm thanh và rực rỡ sắc màu.

Âm thanh của chiếng chèo Nam có bộ dây là đàn nguyệt, đàn nhị, đàn bầu, có bộ hơi là sáo, tiêu, có bộ gõ là trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mõ. Trong các bộ dây, hơi, gõ thì các nhạc cụ thuộc bộ gõ đóng vai trò quan trọng bậc nhất. Các cụ có câu “Phi trống bất chèo” cho thấy vai trò của tiếng trống nói riêng trong chèo. Vở chèo thường mở đầu bằng điệu hát “Vỡ nước” với phụ họa của hồi trống rung, buổi diễn kết thúc có hát “Vãn trò” với trống giã đám. Rù trống là vê dùi trên mặt trống minh họa cho diễn viên chuyển động. Rụp trống là minh họa diễn viên dừng lại. Cắc trống lúc khoan lúc nhặt minh họa diễn viên suy nghĩ, tính toán chuẩn bị hành động.

Ngoài ra, sân khấu chèo trước đây còn sử dụng trống chầu để “cầm trịch” buổi diễn tỏ ý là khen - chê, do một người có vai vế, uy tín như già làng hoặc am hiểu sâu về nghệ thuật chèo như trùm chèo điều khiển. Nghe tiếng trống của người điều khiển mà quan viên có thể rút thẻ tre để thưởng cho người diễn. Bao nhiêu thẻ là bấy nhiêu đồng chinh cắc bạc, không nhiều đâu nhưng đấy là cái tình của người nghe, cứ thế mà quy đổi sau đêm diễn. Tuy nhiên, để khắc họa được diễn biến tâm lý nhân vật thì các nhạc cụ bộ dây, bộ hơi mới thể hiện được rõ nét nhất “phần hồn” để cho khán giả có thể cảm nhận được.

Tiếng đàn nhị - líu - hồ khắc khoải, luyến láy, khơi gợi những mạch nguồn sâu thẳm của tâm can. Tiếng sáo - tiêu vừa trong sáng, bay bổng, vừa mơ hồ, mênh mang, đưa nhân vật trở về miền xa xôi trong ký ức. Tiếng đàn bầu - đàn tranh lúc da diết, buồn bã, khi ngân nga, vang vọng, gửi gắm bao suy tư thầm kín, muôn trắc ẩn sầu bi. Bằng cách kết hợp điêu luyện, nhuần nhuyễn các nhạc cụ, các nhạc công đã tạo nên một dàn nhạc sân khấu chèo hài hòa giữa cái hài, cái hùng và cái bi, chứ không quá bi hùng như sân khấu tuồng hay bi luỵ như sân khấu cải lương.

Màu sắc của chiếng chèo Nam với bốn gam chủ đạo là màu nâu sồng của đồ mặc như các loại áo, quần, váy, xiêm, màu đen của đồ đội như mũ, khăn, ô, màu trắng của đồ cầm như nón, quạt và màu xanh hoa lý của cái thắt lưng, cái thắt lưng mà thi sĩ Nguyễn Bính đã phải thốt lên trong bài thơ “Mùa xuân xanh” bởi sự đẹp đẽ của mùa xuân rằng “Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy/ Bắt đầu là cái thắt lưng xanh”. Đó cũng là màu sắc trang phục đời thường của người nông dân ở trấn Sơn Nam Hạ. Những người nghệ sĩ - nông dân đã đưa hơi thở của đời sống nông thôn - đồng bằng lên chiếu chèo - sân khấu để người xem thấy gần gũi vì đã gặp đâu đó trong cuộc đời này những nhân vật để mà căm ghét, để mà xót thương, để rồi vỡ òa trong niềm hạnh phúc khi cái thiện sẽ thắng cái ác, điều nhân nghĩa sẽ thắng bạo tàn như mong ước bao đời.

Chiếng chèo Nam có nhiều làng chèo nổi tiếng như làng Nhân Nhuế, Hoành Nhị, Điền Xá, Giao Thanh. Làng chèo Giao Thanh cũng chính là nơi sinh ra, lớn lên của nghệ sĩ nhân dân Bùi Trọng Đang - người thầy đáng kính của sân khấu chèo. Hạt gạo, củ khoai làng Giao Thanh đã nuôi dưỡng chèo sống mãi với nhân gian. Ơi dòng sông Đào, sông Ninh, sông Sò, sông Đáy như những dải bao xanh thắt ngang lưng các làng chèo như các cô đào chín, đào pha, đào lệch. Phù sa sông mẹ đã bồi đắp bến bờ tâm hồn những người con thêm nhân hậu, vị tha.

Gánh chèo Đặng Xá là nức danh hơn cả. Làng Đặng Xá lúc bấy giờ có mười thôn thì người dân đều mang họ Đặng, chính vì vậy mà làng có tên là làng Đặng. Làng Đặng càng nổi tiếng hơn khi cô gái đang dệt lụa bên khung cửi trong bài thơ “Mưa xuân” nhìn thấy “Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ” trong nỗi niềm khắc khoải năm canh, vô vọng bốn mùa.

Hỡi cô thôn nữ thắt dải lưng xanh hãy bước ra từ trong ca dao, để mùa xuân này theo tôi về với Nam Định, về với chiếng chèo Nam nức danh thiên hạ. Ta lại cùng nhau nghe một làn điệu chèo, xem một vở chèo để cầu mong nghệ thuật chèo được lan tỏa sâu rộng trong đời sống hiện đại như thứ mùi hương thanh khiết của hoa xoan đang lách tách nở ra trong mưa xuân giăng mùng. Bởi vì bản sắc văn hóa dân tộc ở đó, trong những vở chèo mẫu mực, kinh điển, trong những làn điệu chèo da diết, khắc khoải mà cha ông để lại, phải không cô thôn nữ ơi…

Hoàng Anh Tuấn

Các tin khác

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...

Dán nhãn độ tuổi cho MV: Khi “tấm biển cảnh báo” còn bỏ ngỏ

Dán nhãn độ tuổi cho MV: Khi “tấm biển cảnh báo” còn bỏ ngỏ

Nếu việc dán nhãn phân loại độ tuổi đã trở thành điều kiện bắt buộc với tác phẩm điện ảnh, xuất bản... trước khi đến tay công chúng thì ở lĩnh vực âm nhạc, tấm biển cảnh báo này gần như bỏ ngỏ. Thế nên không lạ khi làng nhạc liên tục vấp phải tranh cãi vì những MV có nội dung người lớn.

Cyberpunk Việt: Những linh hồn lạc giữa kỷ nguyên số

Cyberpunk Việt: Những linh hồn lạc giữa kỷ nguyên số

Có một dòng văn học vừa lạ vừa quen đang âm thầm chảy trong lòng đô thị Việt. Những con hẻm ướt ánh đèn neon, tiếng rao hàng rong lẫn trong tiếng ù ù của máy chủ, quá khứ và tương lai va vào nhau chẳng một lời báo trước. Đó là cyberpunk, thứ ánh sáng le lói phản chiếu nỗi cô đơn của con người giữa thời đại số.