Cao Tự Thanh, dịch giả “tự cao"

Những gì tôi biết về ông trước khi gặp mặt rất ít ỏi, nổi bật nhất chỉ là cái tên Cao Tự Thanh - "Thanh tự cao" và đôi lần thấy ông đi dự hội thảo khoa học nào đó, từ xa nhiều người chỉ trỏ bảo "Thanh tự cao" đó.

Quan sát thấy ông cứ nghênh ngang thế nào, nghĩ bụng chắc ông này khó gần và tự cao quá nên người ta mới đặt lời như thế. Vậy nhưng khi gặp, rồi nói chuyện với ông hơn hai giờ đồng hồ thì thấy mình suy diễn không chính xác cho lắm…

Mười năm thuê bảy chỗ ở

Nhà ông nằm trong con hẻm nhỏ ở quận 12, TP HCM. Tiếp tôi, ông vẫn cởi trần theo thói quen như nhiều người biết. Mới nhìn bề ngoài của ông, tôi hơi ái ngại với thân hình khá gầy, hai má hóp lại, mái tóc bạc trắng, hai hàm răng trắng không đều, hàm trên răng giả nên trắng bóng, còn hàm dưới răng thật thì xỉn vàng vì khói thuốc ám lâu năm. Ông bảo, mỗi ngày ông hút tới hai gói thuốc.

Ngôi nhà rộng rãi, sạch sẽ, ngăn nắp và nhìn quanh chỉ toàn sách, được xếp trên giá rất gọn ghẽ. Phượng, bạn tôi, là thư ký của ông, nói với tôi, đây là nhà ông thuê, vừa để ở, vừa để có chỗ làm việc. Mỗi khi ông bị đòi nhà, là cả ông và Phượng lại xấc bấc xang bang kiếm nhà mới để mướn.

"Nghề của tôi cần ổn định nhưng sống với thị trường thì lúc nào cũng phải có phương án dự phòng, nên chuyện thuê nhà, tôi quyết nhanh lắm. Ở đây tôi còn có chú Bình "tổng quản", cô Phượng thư ký. Nói trả nhà là cô Phượng lo mua thùng dọn sách, chú Bình lo tìm nhà thuê xe, xong là đi thôi", ông vừa cười, vừa bộc bạch. Cũng theo lời ông thì từ năm 1999, ông đã chuyển qua sáu, bảy chỗ ở từ Gò Vấp, Bình Thạnh, Tân Bình và giờ thì lùi ra tít quận 12.

Hỏi ông tại sao không lo một chỗ ở cho ổn định, ông trầm giọng: "Tôi không có tích lũy thì muốn mua nhà phải vay mượn, nhưng như thế phải mất ít nhất hai ba năm cày cuốc trả nợ. Mà tôi già rồi, lại không con cái, để hai ba năm ấy đọc sách, uống rượu lại không nhàn nhã hơn à? Ăn thua là đừng để đám ma của mình thiếu kinh phí làm khó bạn bè, thế thôi".

Ông cũng nói thêm: "Thật ra, tôi cũng cần ở rộng, vì phải có chỗ để giá sách, đặt máy tính mới làm việc được, mà nếu chẳng may có khách nước ngoài ghé chơi, họ nhìn tới nhà cửa thấy mình cũng còn giống… con người".

Nhắc lại chuyện xưa, vì tôi vẫn thắc mắc về quyết định bỏ học giữa chừng của ông năm 1975. Hỏi ông có hối hận vì quyết định đó không, ông đáp: "Không bao giờ, mà với nghề nghiệp về sau của tôi có khi đó còn là cái duyên. Tôi quyết định về Nam do sự xốc nổi nhất thời, nhưng khi về Nam , tôi lại được tiếp xúc với nhiều sách vở báo chí.

Ví dụ  như sách về hoạt động đối ngoại của chính quyền Sài Gòn trước giải phóng, trong đó có Ủy ban sông Mê Kông chẳng hạn. Hay những sách mà miền Bắc chưa dịch như Đạo đức kinh, Nam Hoa kinh cùng một số tác phẩm thơ văn tiền chiến. Chính nhờ đọc những sách vở báo chí ấy mà tôi hiểu biết nhiều hơn.

Còn bạn hỏi vì sao tôi làm dịch giả à? Đơn giản là vì… tôi đói. Đói thì đầu gối phải bò. Hồi năm 90, tôi nghỉ việc Nhà nước, vất vả mấy năm, khó khăn nên phải tìm cách kiếm tiền. Và dịch, dịch miết, giờ thành dịch giả chuyên nghiệp".

"Tôi biết tôi rất quan trọng…"

Ông có kiểu nói chuyện cực kỳ cuốn hút, hài hước mà thẳng thắn với ánh mắt nhìn người đối diện rất sắc, với những lần lên giọng, xuống giọng và cả những cái đập bàn theo nội dung câu chuyện. Thế nên cuộc nói chuyện với ông lúc nào cũng giống như một cuộc diễn thuyết đầy ấn tượng.

Tôi hỏi ông, phải chăng cái tên "Thanh tự cao" xuất phát từ tính cách của ông? Ông cười nhẹ: "Tôi chẳng tự cao gì, tôi biết tôi rất quan trọng nhưng chỉ là đối với tôi, còn đối với thiên hạ, tôi có quan trọng hay không còn phụ thuộc vào hai điều: một là có thể làm lợi cho họ tới mức nào; hai là, có thể làm hại họ tới mức nào. Nói thế cho nó sòng phẳng. Chứ tôi có giỏi thì bất quá cũng chỉ đọc sách kiếm cơm, đáng cái gì mà lên mặt. Có điều là, tôi chỉ nói cái gì tôi biết, nhưng có vài người cứ lên mặt nói những cái họ không biết, đôi khi ngứa mồm, tôi cũng bình phẩm vài câu nên họ ghét, bảo tôi tự cao thôi".

Uống một hớp rượu, ông trầm ngâm: "Người ta nên có khí cốt kiêu ngạo chứ đừng nên có thái độ kiêu ngạo. Người có tài luôn kiêu ngạo, nhưng cái đó khác với khoác lác. Người thật sự giỏi luôn biết mình giỏi tới mức nào, với lại người giỏi luôn thừa nhận cái giỏi của người khác, chỉ những kẻ chưa giỏi đủ mức cần thiết mới không chấp nhận được chuyện người khác cũng giỏi thôi".

Khẳng định như thế nhưng ông cũng tự nhận rằng mình còn may mắn: "Nhiều người ở cái tuổi như tôi, tàn tật như tôi không được học hành đầy đủ, tôi được thế này là may lắm rồi. Còn tôi có giỏi cũng là chuyện bình thường, người ta phải làm để sống, mà muốn làm thì phải học, nếu may mà giỏi thì dễ sống hơn một chút, thế thôi".

Hàng ngày dù làm gì, ăn chơi gì, dù sớm dù trễ, ông cũng luôn dành ít nhất 10 tiếng đồng hồ để làm việc. Và theo ông thì bất cứ sách gì không thuộc mảng khoa học kỹ thuật ông dịch tối thiểu cũng được 4 trang bản gốc/giờ, có khi nhanh hơn thì 6 - 8 trang/giờ. Ông nói dịch như thế mới kiếm ăn được để còn nghiên cứu.

Bao nhiêu năm viết, dịch rất nhiều quyển sách và được đánh giá là một trong những dịch giả tiếng Hán - Hoa uy tín nhất hiện nay, ông bao sân khá nhiều mảng: sách lịch sử, triết học, y học, văn học cổ, truyện võ hiệp, truyện thiếu nhi…

Đến nay ông đã có khoảng 60 quyển sách dịch như Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh (trọn bộ), Quan trường hiện hình ký của Lý Bảo Gia, Thẩm Thăng Y truyền kỳ hệ liệt của Hoàng Ưng, Anh hùng xạ điêu, Lộc Đỉnh ký của Kim Dung, Đại Đường du hiệp ký của Lương Vũ Sinh, Huyết anh vũ, Lưu tinh hồ điệp kiếm của Cổ Long, Lịch sử lưu manh, Lịch sử ăn mày, Lịch sử cờ bạc, Lịch sử kỹ nữ, Ẩn sĩ Trung Hoa, Tăng nhân Trung Quốc thời cổ, Đạo sĩ Trung Quốc thời cổ… của nhiều tác giả khác.

Về sách nghiên cứu, ông cũng có gần 20 công trình như Nho giáo ở Gia Định, Văn học Hán Nôm ở Gia Định, Văn học Đàng Trong, Đại Nam Liệt truyện Tiền biên, Quốc triều Hương khoa lục, Giai thoại thơ Đường, Thơ văn Nguyễn Thông, Thơ Trần Thiện Chánh…, hay tham gia chủ biên bộ "Một trăm câu hỏi đáp về Gia Định - Sài Gòn - Thành phố HCM”

Dịch và viết nhiều như thế nhưng ông chẳng tích lũy được gì về vật chất. "Tôi chỉ làm được đủ ăn chứ không đủ sống vì muốn đủ sống phải có tích lũy. Có hai lý do chính. Một là, thị trường sách vở nói chung ở Việt Nam hiện nay chưa phải là thị trường thật sự, thị trường sách dịch lại càng bát nháo, ngay trong những người dịch đáng mặt gọi là chuyên nghiệp cũng chưa chắc đã có được bao nhiêu người sống nổi với nghề dịch. Hai là, có lẽ vì tôi chi tiêu cũng khác người ta.

Có tiền thì tôi chi tiêu rộng hơn một chút, sao chụp tư liệu nhiều hơn một chút. Tôi không làm Nhà nước nên muốn có tư liệu thì phải bỏ tiền túi ra. Ví dụ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cán bộ ở viện cần thì có thể mượn sách về nhà, chứ tôi muốn có sách ở đó thì phải chụp, 2.000 đồng/trang cũng không ít tiền đâu. Mà phải có đầu tư nhất định về tư liệu thì tôi mới đứng vững được trong nghề nghiệp của mình…", ông lý giải.

"Nếu tôi dịch sai dịch gian dịch bậy, độc giả mới được chửi"

Hiện nay mỗi quyển sách in ra ông được trả nhuận bút khoảng 12 - 15% giá bìa trên số lượng in (dĩ nhiên phải đóng thuế), nhưng số lượng thực tế in ra và tái bản thì những người dịch như ông không bao giờ biết được chính xác. Nhưng ít khi ông mặc cả, trả giá với các nhà xuất bản và nhất là các công ty sách tư nhân.

Ông kể có lần một nhà xuất bản đưa tới hơn 4.000 trang nhờ dịch, ông xem qua rồi nói giá, nghe xong họ bỏ sách chạy lấy người luôn, mà đó chỉ là giá phổ biến hiện hành. "Tôi thường không mặc cả, kẹt thì bán chữ chứ không cò kè với các doanh nhân buôn sách, thích sách thì dịch, thấy được thì làm. Nhưng tôi nghĩ tôi có đủ tư cách để ra giá".

Hỏi ông vậy lâu nay độc giả mua sách Cao Tự Thanh dịch vì cái gì? "Trước hết, người ta vì người ta, tôi muốn kiếm cơm thì phải cố dịch cái gì mà người ta thích và cần xem.

Còn xem xong chê khen là quyền của họ, tôi làm khoa học nên quen nói chuyện đúng sai, chứ chuyện hay dở thì năm người mười ý, ai mà làm vừa lòng tất cả người thiên hạ được. Về phần mình, tôi chỉ cố dịch thật đúng, đúng thì tự nhiên có chỗ hay, còn nếu tác phẩm không dở, dịch phẩm không sai mà thấy là dở là sai thì còn phải xem lại học vấn độ lượng của độc giả.

Ví dụ bài Trầm giang khúc trong Lộc Đỉnh ký là từ khúc, trước đây Hàn Giang Nhạn dịch ra thơ mà còn dịch sai, tôi dịch ra từ khúc theo đúng nguyên bản thì có người lên mạng chê bai chửi bới, lãnh giáo loại người ít học cạn nghĩ mà hay chửi bậy nói càn ấy thì mệt lắm. Nếu tôi dịch sai dịch gian dịch bậy, độc giả mới được chửi chứ", ông thẳng thắn nói.

Quả thật, đúng như lời ông nói và những gì tôi biết được về ông, nhiều người thương mến và nể trọng ông vì cách làm việc rất nghiêm túc, có trách nhiệm với tác phẩm và dịch phẩm của mình cũng như cách xử sự tôn trọng người khác và tự trọng thân phận của ông. Nhưng có lẽ quan niệm người có tài luôn kiêu ngạo của ông đã khiến nhiều người gán cho ông cái tên "Thanh tự cao" chăng?

Dịch giả Cao Tự Thanh (tên thật là Cao Văn Dũng) sinh năm 1955, tốt nghiệp ngành Hán Nôm khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1977. Hiện ông đang dịch hai bộ Đại Nam Thực lục cuối cùng của triều Nguyễn, tức Thực lục chính biên đệ lục kỷ phụ biên viết về hai đời Thành Thái - Duy Tân và Thực lục chính biên đệ thất kỷ viết về đời Khải Định.

Văn bản gốc của hai bộ này ở Pháp, ông phải nhờ chụp lại gởi về để dịch, vì ở Việt Nam mới dịch tới bộ Thực lục chính biên đệ lục kỷ viết về đời Đồng Khánh. Ông nói nếu hai bộ sách này được in ra thì nhiều người sẽ có thêm cứ liệu mà đổi mới tư duy, đột phá nhận thức về triều Nguyễn nói riêng và lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói chung. "Đổi mới đột phá thật sự bằng công trình bài viết chứ không phải leo lẻo đổi mới, rêu rao đột phá bằng cái mồm", ông cười nhẹ.

Tôi hỏi ông đã liên hệ với nhà xuất bản nào để in hai bộ sách này chưa, ông nói: "Chưa. Nhưng nếu có người cần đọc thì sẽ có nơi thích bán, ai muốn bán thì phải mua, mà hiện nay ai dịch nổi hai bộ sách ấy thì sợ gì không bán được cho các doanh nhân buôn sách!".

Phạm Phú Lữ

Các tin khác

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.