1. Thư viện của phân khu II, trại giam Z30D có hơn 5 nghìn đầu sách, nhiều thể loại. Sách được phân theo chủ đề riêng biệt, không khí trong căn phòng dành cho việc thụ hưởng tri thức rất sạch và tĩnh lặng. Gã ngồi với tôi ở đó, khuôn mặt bao giờ cũng nhìn xuống mặt bàn, gã đang ăn năn…
Gã kể, tuổi thơ gã khốn khó. Con chữ không trụ nổi trước sức mạnh của miếng ăn, nên gã thôi học. Thiếu niên ở quê, thôi học thì chẳng biết làm gì ngoài việc tụ tập tán phét cho hết ngày. Thi thoảng, hứng chí và có đủ tiền thì gầy cuộc nhậu… và chấm hết. Những tháng ngày buồn chán lặng lẽ trôi qua.
Rồi như một trào lưu ngoài mong đợi, cơn bão mang tên khu công nghiệp cuốn phăng cánh thanh niên vừa lớn ở làng quê gã ra khỏi bờ đê, mảnh ruộng, lũy tre ngà. Từng tốp thanh niên ra đi, đi nhiều đến mức, người xách hành lý cười nói râm ran trong làng, người ở lại thì lấn cấn thở dài nhẩm tính: “Ngày mai sẽ đến lượt mình”.
Gã gom được ít tiền, thu xếp đồ đạc, nhét vào cái túi vải cũ, men theo đường làng ra quốc lộ. Gã bắt xe đò vào
Hơn 30 tiếng ngồi xe mệt nhoài, gã đến địa phận của tỉnh Đồng Nai. Đáng ra, gã sẽ vào Sài Gòn. Nhưng, có ai đó khuyên gã, những khu công nghiệp mới ở Đồng Nai đang cần nhân công. Hơn nữa, ở nơi này, ít xảy ra tình trạng giật dọc, lừa đảo hay giang hồ bắt nạt công nhân.
Không có khó khăn để gã kiếm được việc làm trong xưởng may giầy, lương mỗi tháng gần 1,5 triệu đồng. Chi phí ở vùng nửa thôn quê, nửa thành thị rẻ, nên trừ tiền nhà trọ và chi tiết, mỗi tháng gã để dành được một ít.
Gần nhà trọ của gã là quầy hàng bán đồ tạp hóa của đôi vợ chồng trẻ. Quầy tạp hóa ở khu nhà trọ công nhân có bán đủ cả, từ bịch dầu gội đầu có giá 500 đồng, đến thuốc lá lẻ, chai xì dầu, nước mắm, bột ngọt, muối… Gã độc thân, lại tiết kiệm nên hay sang đấy mua đồ về nấu nướng. Sang mua lần đầu, thì là khác. Lần thứ hai, đã quen quen. Lần thứ ba, thì là khách mối. Sang mua từ tháng này đến tháng khác thì mấy chốc như người trong gia đình.
Vợ chồng chủ tiệm tạp hóa cũng quý gã. Họ thương hoàn cảnh của gã. Ở những khu vực như thế này, tình thương của người đàng hoàng có cơ hội để bén vào nhau nhanh hơn cả mồi lửa gần rơm khô.
Họ rủ gã sang ăn cơm tối. Thi thoảng, gã có uống rượu với ông chủ tiệm tạp hóa. Bữa rượu của những gã đàn ông, thường có nhiều chuyện để nói. Gã hay tâm sự với ông chủ tiệm tạp hóa về miền quê xa lắc của gã, về tuổi già của bố mẹ, về đứa em đang cắp sách đến trường… Cả về những dự tính dở dang. Ông chủ tiệm cũng kể với gã về những điều sâu kín, về những hạnh phúc của hai vợ chồng, cả những trục trặc nho nhỏ trong đời sống hôn nhân. Họ không giấu giếm nhau chuyện gì. Họ cũng không đề phòng nhau…
Vơi rượu, tình thân lại đầy lên.
2. Vợ chồng chủ tiệm tạp hóa hiếm con, mãi mới sinh được cô con gái đầu lòng. Hai vợ chồng cưng hơn cưng trứng mỏng, bao giờ cũng nâng niu như nhà nghèo sắm được bình uống trà bằng thủy tinh, như trẻ con có quà là đôi dép mới, lúc nào cũng sợ đánh rơi, khi nào cũng lo mòn gót. Tôi tạm gọi tên bé là bé Hoa.
Bé Hoa hay quấn quít gã, bởi vì gã là người thường xuyên lui tới trong nhà. Trẻ con lúc nào chẳng vậy, nhìn mặt người lạ hoài thì sẽ thành người thân.
Gã bảo với tôi rằng, tình thật thì gã rất quý bé Hoa. Gã coi Hoa như con đẻ của mình. “Vậy tại sao chuyện đó lại xảy ra?”. Tôi hỏi bằng giọng không thân thiện. Gã gục đầu, thêm lần nữa lặng im.
Hôm ấy gã làm tăng ca suốt đêm, đến rạng sáng mới thất thểu về nhà trọ. Vài người bạn làm cùng gã rủ, hay đi kiếm gì đó lai rai cho vui, chốc về nhà ngủ cũng dễ hơn, gã đồng ý.
Cuộc rượu kéo dài cho đến gần xế trưa, gã hơi say. Về đến nhà trọ, đang loay hoay mở khóa, thì gã nghe tiếng bé Hoa: “Chú uống rượu phải không? Mặt mày đỏ ké”. Gã nhìn Hoa, mỉm cười. Khi ấy, toàn bộ khu vực gần nhà trọ gã vắng hoe. Ngay tiệm tạp hóa của bố mẹ bé Hoa ở phía đối diện cũng không có người vào mua bán…
Gã vào nhà trọ, khóa trái cửa, chuẩn bị đi nằm. Nhưng gã không sao ngủ được, có cái gì đó như thiêu như đốt trong lòng. Gã lần hồi nhớ lại, biết bao lâu rồi gã không gần phụ nữ. Mà thật ra, gã đâu có người phụ nữ nào cho riêng mình để luyến ái, từ bấy đến nay.
Ở quê, gã không có mảnh tình vắt vai. Vào trong này, gã cắm mặt ở xưởng làm giầy, cô đơn toàn tập. Những lần bỏ tiền mua vui chưa bao giờ giúp gã thỏa mãn thứ thuộc về bản năng.
Gã bật dậy, mở cừa, gọi bé Hoa vào nhà. “Chú kể chuyện cho bé Hoa nghe nhé”, giọng của con sói khi cần mồi bao giờ cũng trở nên ngọt dịu lạ thường. Bé bỏng của tôi không biết điều ấy, mãi mãi không biết điều ấy. Đau đớn thay, bi kịch bắt đầu từ chuyện này.
Mọi thứ diễn ra cuống quýt, cho đến lúc bé Hoa khóc thét lên đau đớn, ôm mặt chạy ra khỏi căn nhà trọ ấy. Gã bị bắt ngay vào hôm đó.
Tôi bảo với gã, tôi gặp phạm cũng nhiều rồi. Nhưng chưa bao giờ, tôi có cảm giác chán như khi ngồi với gã. Bởi dẫu đã cố gắng lý giải hết mọi thứ bằng kiến thức của mình, tôi vẫn không hiểu sao gã có thể thực hiện hành vi bỉ ổi ấy với một cô bé chưa đến bảy tuổi.
Gã không đáp, mặt lại cúi xuống nhìn sàn nhà. Ngoài kia, trời nắng như đổ lửa, không khí trong phòng thư viện ngột ngạt. Tôi xin phép đồng chí giám thị phân trại đi cùng cho mình được ra ngoài thở một lát rồi tiếp tục câu chuyện. Bởi tôi nhạy cảm, đôi lúc sợ không kiềm chế được mình.
Tôi nhớ năm trước, khi đi công tác ở một loạt tỉnh miền Tây Nam Bộ, có tiếp xúc với rất nhiều hồ sơ liên quan đến chuyện bản năng ấy, càng đọc càng lợm giọng. Những câu chuyện buồn hắt hiu. Mất ngủ nhiều ngày liền sau khi đọc các hồ sơ ấy, hối hận thì đã muộn.
Giờ, lại ngồi với gã để nghe một câu chuyện tương tự. Hỏi làm sao mà không mệt nhoài…
3. Tòa tuyên án gã mức án 13 năm tù giam cho hành vi tội danh ấy. Hôm Tòa xử, bố gã lặn lội từ Hải Dương vào Sài Gòn, ngồi dưới hàng ghế dự khán trong phòng xử án. Tôi hỏi gã, bố gã có kịp nói gì với gã sau phiên Tòa không. Gã trả lời, bố chỉ nhìn gã thôi, không nói gì.
Thế còn gia đình nạn nhân, những người hàng xóm tưởng như rất thân thiết với gã thì sao. “Em không dám chạm mặt người ta, em xấu hổ vô cùng”, gã trả lời. Cái này, tôi tin gã nói thật lòng.
Sau này, khi đang thụ án ở Trại giam Z30A, bố gã có vào thăm gã thêm lần nữa. Từ bấy đến nay, gã bặt tin gia đình. Gã bảo, có khi tại quê nhà khó khăn quá, cho nên gã ở trong trại lủi thủi một mình. Cũng may, là trại có Quỹ tấm lòng vàng, đó là số tiền do các cán bộ giám thị, quản lý trại giam đóng góp để cưu mang cho những phạm nhân không có người thăm nuôi như gã.
Thời điểm mà gã gây án, gã vừa gom tiền để đóng học phí, lớp học trình dược viên. Gã tính, học xong lớp học ấy có khi gã sẽ về lại làng quê của mình, phụ bán thuốc trong quầy dược phẩm nào đó để gần bố mẹ. Gã cũng nghĩ nhiều đến chuyện ở quê lấy một cô vợ, sinh cho bố mẹ gã đứa cháu đích tôn… Tiếc rằng, mọi chuyện đã dở dang. Gã học được hơn tháng thì bản năng đã trỗi dậy.
Trong suốt buổi trò chuyện, gã không dám nhắc đến quê nhà nhiều, gã sợ hình ảnh mẹ gã ngồi đầu hè trông ngóng gã về. Về chỉ hai bàn tay trắng và cái án tích mang trên người là tất cả những gì gã có được sau những năm xa quê. Mà chính gã, gã cũng sẽ không biết thưa chuyện với mẹ mình như thế nào cho hành động ấy. Lần duy nhất tôi an ủi gã, bất cứ bậc sinh thành nào cũng sẽ tìm được cho riêng mình cái cớ hợp lý với chính họ để tha thứ cho con cái.
Trước khi gã theo cán bộ quản giáo về lại phòng giam, tôi có hỏi gã là, bảy năm nữa cũng đến lúc ra trại, gã sẽ làm gì. “Về quê thôi, anh ạ. Chỉ có nơi đó để em có thể quay về. Em tính là trước khi về sẽ tìm đến căn nhà của anh chị bán tạp hóa, quỳ trước nhà anh chị xin tha thứ. Nhưng mà em không dám”, gã đáp.
Tôi biết là gã không dám. Mà có khi, cũng không nên làm. Vì vết thương đôi lúc cần được khép miệng. Dẫu có những di chứng không bao giờ có thể phôi phai.
Tôi vẫn luôn giữ nguyên niềm tin vào cái thiện trong mỗi con người. Tin luôn cả lần đứng dậy của người từng vấp ngã.
Gã có cái tên rất hay, nhưng tôi không muốn nhắc đến