Một nhà 3 người bị "xương thủy tinh"
Chúng tôi có mặt tại Kiến Xương vào một ngày cuối tháng 5. Những đợt nắng đầu hạ như dội lửa xuống miền quê êm ả này. Nhà ông Nguyễn Văn Dị ở mãi tít cuối thôn. Lúc chúng tôi đến thì cả nhà đang lăn vào sửa cái bể nước, cùng với sự giúp đỡ của một số người hàng xóm. Mặc dầu đôi chân của ông Dị chỗ phình to, chỗ hóp lại cong queo hệt như củ sắn dị dạng, bàn tay trái bé và ngắn chỉ bằng một nửa tay phải, cứ lòng thòng như tay con rối song người đàn ông tóc muối tiêu vẫn cố gắng chuyển cái bay, xô vữa cho bạn hồ.
Bước vào căn nhà nhỏ tầm 20m2, tường, vữa ở trần đã lở tróc hàng tảng, đập vào mắt chúng tôi là một cậu bé cũng... dị dạng như bố đang ngồi khoanh chân gấp những con chim bằng giấy. Cậu gấp rất khéo, những con chim như thể đang xòe cánh, chuẩn bị bay lên trời.
Trước khi về Thái Bình, chúng tôi đã được nghe kể nhiều về cô gái giỏi giang và giàu nghị lực của ông bà Dị là Nguyễn Thị Duyên, nên hỏi ngay: "Duyên có nhà không chú?". "Em nó lên Hà Nội làm rồi anh ạ, mời anh vào nhà xơi nước".
Bà Mậu (vợ ông Dị) cũng nghỉ tay, khẽ dùng vạt áo lau những giọt mồ hôi túa ra: "Từ ngày nó đi, nhà buồn hơn hẳn. Chúng tôi đều một hai khuyên cháu nó ở nhà, dù phải chịu đói chịu khổ một tí nhưng bố mẹ, con cái có nhau. Thế nhưng nó không đồng ý. Nó bảo con muốn tự lập, không muốn "ăn bám" bố mẹ mãi". Trên khuôn mặt người đàn bà khắc khổ lúc này vẫn đọng lại nhiều giọt nước, không biết là mồ hôi hay nước mắt.
- Bác giai bị như thế này lâu chưa ạ? - Tôi chuyển chủ đề.
- Ông ấy bị từ bé anh ạ. Các cụ có 9, 10 người con ai cũng lành lặn, khỏe mạnh cả. Riêng có một mình ông ấy thiệt thòi nhất. Các bác sĩ bảo ông ấy bị bệnh xương thủy tinh, gãy đi gãy lại hàng vài chục lần rồi nên mới ra thế này.
Bà Mậu chăm sóc chồng.
Rồi bà Mậu tâm sự. Ông Dị sinh năm 1954, nhiều hơn bà 4 tuổi. Nhà bà vốn ở xã Vũ Thắng, cách Vũ Hòa vài kilômét. Hồi bé, bà cũng thỉnh thoảng cùng bọn trẻ trong làng đi nghe anh Dị "khoèo" thổi sáo. Đến tuổi cập kê, chả biết ông tơ bà nguyệt run rủi thế nào, cô thôn nữ Mậu phải lòng chàng trai chân tay lèo khoèo song khuôn mặt khôi ngô tuấn tú, đặc biệt là thổi sáo rất có hồn.
Lúc bà Mậu đặt vấn đề tình cảm, ông Dị mừng lắm. Song ông trăn trở, còn gì buồn hơn khi mang tiếng là thân nam nhi mà lại phải sống kiếp "tầm gửi". Ông còn lo, sau này con cái mình nhỡ ra lại bị tật nguyền giống bố thì thiệt thòi cho chúng nó lắm. Song cuối cùng ông Dị cũng không cưỡng lại được tấm lòng tha thiết của người con gái quê lúa giản dị mà nồng hậu.
Về phía gia đình bà Mậu, khi nghe con nói yêu và muốn lấy thằng Dị "khoèo" làm chồng thì hai cụ không dám tin vào tai mình. Cụ bà bảo: "Con trai làng này đã chết hết đâu mà lại đâm đầu vào thằng người không ra người, ngợm chẳng ra ngợm”(!?). Nghe con thuyết phục hồi lâu, cụ ông góp ý: "Con còn trẻ người non dạ thì bố mẹ phân tích thiệt hơn, còn nghe hay không thì tùy. Sau này dù sướng khổ thế nào thì con cũng phải tự chịu trách nhiệm".
Trước quyết tâm của cô thôn nữ, một đám cưới tuy nhỏ song đầm ấm đã diễn ra. Hai vợ chồng được "cai quản" 6 sào ruộng, một mình bà Mậu bươn bả cũng đủ ngày hai bữa rau cháo. Năm 1986, đứa con gái đầu lòng ra đời, đặt tên là Nguyễn Thị Thúy. Khó có thể diễn tả hết niềm vui vô bờ của hai vợ chồng khi thấy Thúy lớn lên hoàn toàn khỏe mạnh.
Thế nhưng, sau khi cô em gái Nguyễn Thị Duyên chào đời được vài năm thì "bão tố" bắt đầu đổ ụp xuống ngôi nhà nhỏ này. Một buổi chiều hè năm 1990, khi ông Dị đang ngồi câu cá ở bờ ao, Duyên khi đó được gần 3 tuổi đang chơi quanh quẩn trong nhà thì nghe tiếng bố: "Duyên ra bố cho xem con cá to không này". Duyên le te chạy ra thì... uỵch, em vấp vào hòn gạch ngã bổ chửng.
Ông Dị vội bỏ cần câu đấy, lật đật lê mình ra đỡ con dậy. Ông bàng hoàng khi nghe con gào khóc xé lòng. Nâng đôi chân Duyên lên thì thấy cả hai chân em đều bị gãy, khúc xương như muốn trồi lên khỏi da. Vội vàng, ông Dị gọi hàng xóm tìm vợ về rồi đưa Duyên đi bệnh viện. Sau khi bó bột, các bác sĩ nói Duyên bị di truyền chứng xương thủy tinh từ bố, cho nên từ rày về sau phải hết sức cẩn thận trong khi di chuyển.
Em Nguyễn Văn Quý đang giúp bố sửa đài.
Từ đó trở đi, Duyên hầu như chỉ suốt ngày quanh quẩn ở trong nhà mà không được đi đâu cả. Vì xương của em rất giòn, chỉ một cú ngã nhẹ là lại gãy ngay. Chị Thúy thương em thiệt thòi, thi thoảng muốn bồng bế đi chơi cũng không dám.
Năm 1992, bà Mậu lại có mang. Cả hai vợ chồng ngày đêm cầu trời khấn Phật cho cháu không bị di truyền căn bệnh của bố. Song thật không may, cậu bé Nguyễn Văn Quý không những không thoát mà còn bị nặng hơn. Ông Dị và em Duyên còn có thể dùng tay để di chuyển được, riêng Quý thì yếu lắm, xương lại giòn hơn. Gần 20 năm trời em chỉ ru rú ở trong xó nhà mà hầu như không được đi đâu.
Rồi thì chị cả Thúy cũng đi lấy chồng, tất cả việc nhà đồng áng lại dồn lên đôi vai vốn đã gầy guộc của bà Mậu, nay lại càng trĩu nặng hơn. Không muốn ăn bám vợ mãi, ông Dị mày mò cách học sửa các đồ điện đơn giản. Ban đầu là sửa những loại radio, cát-sét... hỏng. Sau thì ngày càng ít người mang đến nhờ, ông Dị lại xoay qua sửa nồi cơm điện, quạt máy...
Đau đáu một ước mơ
Mặc dầu lúc nào cũng canh cánh nỗi buồn vì gia đình toàn người bệnh tật, song bà Mậu khi kể về cô con gái thứ hai của mình thì không giấu vẻ tự hào pha lẫn xót xa. Từ nhỏ Duyên đã rất hiếu học. Năm lên 6, thấy chúng bạn bằng tuổi tung tăng cắp sách đến trường, Duyên thèm lắm. Nhưng sau cái đợt gãy chân lần thứ nhất ấy, càng lớn hệ thống xương của em lại càng giòn. Năm nào Duyên cũng phải đi bó bột 2-3 lần. Cả thằng Quý cũng vậy. Có lần, thằng Quý đang bò trên giường thì bị ngã xuống đất. Duyên ngồi gần đó vội lao vào đỡ em. Chỉ nghe mấy tiếng "cục, cục" - cả hai đều ngã chổng kềnh. Cú ngã ấy khiến cả hai chị em người gãy tay, kẻ gãy chân và lại phải vào bệnh viện bó bột.--PageBreak--
Trong những ngày phải nằm một chỗ điều trị bệnh, ít khi thấy Duyên rời mấy cuốn sách giáo khoa chị Thúy để lại. Thấy con hiếu học thế, càng nghĩ bà Mậu càng thương. "Thôi thì không học được cao như người ta thì cũng gọi là biết mặt chữ, để khỏi mang tiếng là mù chữ". Nghĩ vậy nên khi Duyên lên 8 tuổi thì bà Mậu quyết tâm phải cho con tới trường. Và thế là bắt đầu quãng thời gian 3.000 ngày ròng rã đưa đi đón về của bà Mậu.
Nhà neo người, nên cứ 4-5 giờ sáng là bà Mậu đã trở dậy cắt rau, quấy cám cho đàn lợn, rồi nấu cơm cho 3 bố con ăn. 7 giờ, bà đưa Duyên đi học rồi lại tất tả ra đồng làm cỏ, bón phân. Trưa lại đến trường cõng con về. Chiều lại ra đồng, tới tối mịt mới về nhà.
Bà Mậu nuôi đàn thỏ, gom góp tiền để chữa bệnh cho chồng, con.
Không phụ công mẹ, Duyên học rất khá. Hầu như năm nào em cũng được giấy khen học sinh tiên tiến, học sinh giỏi. Đặc biệt là Duyên học tốt môn văn, nên nhiều năm được tham gia đội tuyển đi thi học sinh giỏi văn cấp huyện, cấp tỉnh. Được dự thi học sinh giỏi thì ai mà chả vui, thế nhưng với Duyên thì em càng thêm lo. Vì mẹ em phải ngày ngày bốn lần đưa đón em tới trường ôn luyện. Công việc đồng áng vốn đã nặng nhọc, nay gánh thêm việc học của cô con gái, bà Mậu đã gầy lại càng quắt queo hơn. Duyên chỉ biết nỗ lực hết mình để giành được nhiều giải thưởng đem về tặng mẹ.
Có đợt đang ngày mùa, ông Dị thì ốm mà lại đúng đợt Duyên phải ôn thi đội tuyển học sinh giỏi tỉnh. Thế là bà Mậu cứ phải long tóc gáy khi thì ở đồng, khi về nhà, lúc lại chạy lên trường mang cơm, mang nước cho con. Bữa gặt, vì phải chạy thóc tránh mưa nên đã 8-9 giờ tối rồi mà bà Mậu vẫn chưa đến trường đón Duyên được.
Một mình ngồi trong lớp từ chiều, Duyên sợ run lên. Khi nghe thấy tiếng dép loẹt quẹt của mẹ ở hành lang, Duyên mừng quá: "Sao mãi mẹ mới tới, làm con mong quá". Rồi em nức nở: "Trời tối nhanh quá mẹ ạ. Con ngồi trên ghế thì bị muỗi đốt, ngồi xuống sàn thì bị chuột cắn. Con cứ phải hát váng lên cho bọn chuột nó sợ mẹ ạ...".
Khi Duyên học hết lớp 9 thì bệnh tình của ông Dị ngày một thêm nặng. Dù không nói ra, song Duyên biết mẹ muốn em nghỉ học để đỡ đần chăm bố, chăm em. Thế nhưng, cảm giác được vùi mình vào sách vở, sự quyến luyến bảng đen phấn trắng cùng thầy cô, bạn bè đã khiến Duyên không kìm lại được. Duyên trốn bố mẹ, nhờ bạn đèo đến trường để nộp hồ sơ thi vào trường THPT huyện. Mấy ngày Duyên đi thi, gia đình cũng không ai biết. Chỉ đến khi nhà trường có thông báo trúng tuyển thì Duyên mới rụt rè đưa cho bố mẹ.
Thấy con hiếu học như thế, mặc dầu là nông dân và cũng chỉ được học qua lớp vỡ lòng, song bà Mậu không nỡ lòng nào từ chối con. "Nếu nó không học được thì đành phải chịu, đằng này...". Vì trường học cách nhà hơn 5km, nên bà tính thuê một phòng trọ gần trường cho con học. Hai tháng đầu Duyên ở một phòng của người bà con. Sau người này chuyển đi, em phải đi tìm một chỗ khác. Thời gian ấy, phòng trọ ở Kiến Xương còn rất hiếm. Đi tìm hàng tuần giời cũng không được. Một số nhà có phòng rỗi rãi nhưng thấy Duyên bệnh tật như thế nên không đồng ý cho em thuê.
Duyên đang làm việc tại một cơ sở điện thủ công ở Cầu Diễn (Từ Liêm, Hà Nội), quyết đứng vững trên đôi chân mình.
Mấy ngày nghỉ ở nhà, Duyên được một người bạn rủ lên Hà Nội học may công nghiệp. Duyên thấy đây là cơ hội để tự lập, lại có thể giúp đỡ bố mẹ, liền đồng ý. Vậy là bắt đầu những ngày tháng rời xa gia đình, tự mình bước vào cuộc sống đầy khó khăn, bất trắc của cô gái tật nguyền song lại có ý chí mạnh mẽ.
Khó có thể kể hết những khó khăn mà Duyên phải trải qua ở chốn "đất khách quê người". Tất cả mọi việc, từ ăn uống, sinh hoạt cho tới học tập may vá... Duyên đều phải tự làm. Dẫu có một người bạn thân ở bên cạnh luôn sẵn sàng giúp đỡ, nhưng Duyên không ưa dựa dẫm. Bất cứ việc gì em cũng muốn tự làm và nghĩ cách để làm cho kỳ được. Đơn giản như việc mắc màn. Duyên không với tới những cái móc thì em kiếm một cây gậy, rồi lấy dao tạo thành hình chữ U ở phía đầu để dùng nó thay bàn tay mình treo các đầu móc.
Tính Duyên từ bé vốn đã rất cẩn thận, thế nhưng không ai nói trước được chữ ngờ. Đợt lên Hà Nội được mấy tuần, trong một lần đi tắm Duyên tì vào chiếc ghế nhựa, cố nhỏm lên với chiếc khăn mặt trên dây phơi. Ai ngờ cái ghế gãy sập xuống, làm Duyên gãy cả hai chân. Vậy là em lại phải về Thái Bình bó bột, tốn cả triệu bạc.
Hàng nửa năm trời làm may ở Hà Nội song Duyên không tiết kiệm được chút tiền nào. Vì nhà chủ chỉ nuôi cơm thôi. Thế là Duyên lại cùng bạn bươn bả mãi trong... thị xã Kon Tum để bán hàng cho một người quen. Thấy con mang tật mà cứ đi đi lại lại thì ông bà Dị xót lắm. Chạy vạy mãi bà mới tìm được một chỗ trọ ở gần trường THPT mà Duyên đã học được vài tháng, bà Mậu mới gọi con về. Song rất tiếc, do Duyên đã nghỉ quá số buổi cho phép nên Ban giám hiệu quyết định em phải chờ năm sau để học lại lớp 10.
Một lần nữa, Duyên lại thuyết phục bố mẹ cho đi làm. Lần này Duyên xin vào một cơ sở điện thủ công ở gần Cầu Diễn (Từ Liêm, Hà Nội). Mỗi ngày làm quần quật từ sáng đến tối, Duyên được trả công 30 ngàn đồng (tính cả tiền ăn trưa). Có những khi phải làm tới tận 10-11 giờ đêm mới được nghỉ. Làm lụng vất vả thế, nhưng mỗi lần gọi điện về Duyên đều an ủi bố mẹ: "Con muốn cố gắng hết sức để có thể đứng vững trên đôi chân của mình, sau là để giúp em Quý...".
Lúc này, chúng tôi mới quay sang Quý, cậu con út trong nhà: "Em gấp chim đẹp quá". Cậu bé chỉ nhoẻn miệng cười. Bà Mậu đỡ lời: "Không biết nó nghe ai nói rằng chờ hôm nào có sao băng thì thả mấy con chim giấy này xuống nước rồi cầu nguyện thì điều ước nào cũng thành hiện thực. Nó ước có một phép thần thông khiến chị em chân tay lành lặn, để được đi học, đi chơi..."
* Ảnh trong bài: Hải Huyền