Mẹ tôi bảo, mợ là vợ liệt sĩ, từ khi cậu ấy mất, mợ ở vậy, nhận con nuôi. Thằng H nhà mợ cùng học với tôi. Trước khi nuôi nó, mợ đã từng nhận nuôi một đứa con gái là con bà dì ruột của tôi, nó hơn tôi chừng bảy, tám tuổi. Khi mợ đón, nó đã nhơn nhớn, không gọi mẹ mà gọi chệch đi là mợ, từ bấy chúng tôi gọi theo. Hai tiếng mợ Thẩm gắn với chị em chúng tôi vì thế.
Con em tôi bé người nhưng khôn sớm, nên dù mợ chiều chuộng, chỉ được ít ngày, nó khóc, nhất định đòi về với bố mẹ. Người quê vốn trọng tình cảm, đôi khi chỉ vì một mối di duyên nhỏ mà cả đời ghi nhớ và sống với nhau theo cái lẽ chân tình ấy. Em tôi không làm con nuôi mợ Thẩm nữa, nhưng hai gia đình vẫn giữ mối giao tình thân thiết lại qua.
Nhà tôi cách nhà mợ Thẩm một con sông. Mỗi khi đi bên này, thấy bóng dáng mợ đang đảo nia lá thuốc hay gẩy rơm, chúng tôi đều gọi to chào. Mợ ra bờ sông giặt giũ thì mẹ tôi ở bờ bên này lưu luyến nói chuyện sang.
Hồi đó mợ làm ở tiệm thuốc Bắc của ông lang Tiệp nổi tiếng cả vùng Nam Định, Hà Nam. Công việc ấy đối với đa số người dân quê là niềm ao ước. Mợ Thẩm óng ả thắt đáy lưng ong trong tà áo cánh, khi màu mỡ gà, lúc màu hoa lý, hoa cà, với chiếc quần lụa hay nái đen duyên dáng, thong thả đạp xe sáng chiều từ nhà ra tiệm thuốc, là hình ảnh người phụ nữ đẹp nhất khi ấy ở làng tôi. Các mẹ làng tôi thời đó chỉ mặc áo cánh nâu, đi chân đất, nếu không gồng gồng gánh gánh thì cũng vác cái cuốc, cái xẻng trên vai, chả có ai được nhàn rỗi mấy khi mà thong dong quần chùng áo thắm đi trên đường làng. Công việc đồng áng vất vả lam lũ khiến ai nấy đều mồ hôi ướt đẫm, đầu đội nón không rách thì cũng cũ, nét mặt hằn lên sự vất vả, khó nghèo. Ai đó mà có chiếc áo màu gạch non hay thiên lý thì phải để dành đến Tết hoặc đi ăn cưới mới được diện. Nên mỗi lần thoáng thấy mợ Thẩm thong dong đạp xe bờ bên kia sông, thì ở bên này, nhiều người ngưng công việc giây lát mà nhìn sang. Người ta nói mợ vốn đã đẹp, làm nghề thuốc lại biết những phương tốt để chăm sóc sức khỏe nên mợ ngày càng trẻ đẹp, tiếc là cậu ấy đã không bao giờ trở về nữa rồi!
Tôi ít khi thấy mợ Thẩm buồn, hay nỗi niềm sâu kín của cuộc đời riêng, mợ không bộc lộ ra ngoài khiến một đứa trẻ như tôi có thể hiểu. Mợ ở vậy cả đời cơ mà! Gặp mợ, lúc nào tôi cũng thấy mợ vui và ấm áp. Ngôi nhà mợ ở cùng cha mẹ to đẹp vào loại nhất làng thời bấy, lúc nào cũng ngăn nắp sạch sẽ với trường kỉ, sập gụ, tủ chè, quạt trần mát lịm. Cái sân gạch rộng thênh gió nắng, bể lớn chứa nước mưa, có giàn trầu cau ngả bóng thơm mát. Trên sân và mặt bể thường phơi những mẹt những nia lá thuốc. Nhà mợ thoang thoảng thơm mùi thảo dược. Gặp mợ đạp xe ngang qua trên đường, từ khăn áo mợ cũng tỏa ra mùi thảo dược thơm tho hiếm có.
Rằm tháng Bảy năm ấy, mẹ tôi bảo, từ chiều nay mợ Thẩm sẽ hầu đồng ở đình cho đến tối. Từ lúc ba, bốn tuổi, tôi đã thường theo mẹ khi lên chùa, lúc ra đình vào những ngày lễ tiết. Mợ Thẩm mà làm Thanh Đồng thì đẹp lắm. Khi ấy mợ trang điểm rất kỹ lưỡng, nước da trắng hồng, đôi môi quết trầu mọng đỏ, nét mày thanh tú, đôi mắt sắc ngọt, giọng nói cũng cứ thánh thót ngọt lịm đi. Mợ múa thì dẻo vô cùng. Nhìn mợ múa, ai trong cuộc cũng tin rằng thần linh đang ứng nhập.
Lần ấy tôi là đứa con gái xấp xới tuổi mười lăm. Mợ Thẩm hay trêu tôi làm con dâu nên mỗi lần thấy mợ là tôi bẽn lẽn đỏ mặt. Nhưng nếu đi xem mợ hầu đồng, tôi vẫn cứ chọn lấy một chỗ ngồi thuận nhất, để được ngắm mợ kỹ nhất và quan trọng nữa là được mợ ban lộc, một bông hoa, một cái oản, một quả thị hay một đồng hào lẻ. Hôm ấy, tôi thấy trên mâm lễ có một đĩa hoa lan tiêu chín vàng thơm lựng. Tôi thích loài hoa ấy, chỉ cần bỏ một cánh hoa vào túi áo, hay ướp trong chiếc khăn mùi xoa, thì hương thơm của nó có thể lưu lại ngay cả khi cánh hoa đã héo khô.
Cuộc hầu đồng đang đến cao trào thì mợ Thẩm bỗng nhìn quanh trong tâm thế chuẩn bị ban tài phát lộc cho đám đệ tử. Tôi cũng tìm cách nhích mình lại gần mợ hơn, tỏ ý muốn mợ nhìn rõ tôi đang hướng mắt về phía mợ và đĩa lan tiêu. Trong giây lát tôi thấy mợ nhìn sâu vào mắt tôi trìu mến, và ngó xuống đĩa hoa lan tiêu, chừng như mợ hiểu điều tôi muốn, khiến tôi cảm thấy kiêu hãnh và ngầm yêu mợ biết chừng nào. Mợ bắt đầu ban lộc cho mấy người hầu cận. Đến lượt tôi, một lần nữa mợ nhìn thật sâu vào mắt tôi, ánh mắt lúc này như rói lên một niềm thấu hiểu. Nhưng rồi tôi lại thấy mợ khẽ mỉm cười tinh quái, cúi xuống mâm lễ và đưa về phía tôi một trái ớt chín đỏ cong hình lưỡi hái. Mợ nháy mắt với tôi một cái, khiến tôi đang lưỡng lự cũng phải miễn cưỡng mỉm cười, giơ tay lễ phép nhận trái ớt mợ ban. Mợ muốn nói gì với tôi trong giây phút ấy? Tôi lặng lẽ ra ngoài, tần ngần, cay mắt. Có lẽ, tôi sẽ mang món lộc này về cho bố. Nhưng sao mợ không ban cho tôi một bông lan tiêu bé nhỏ, điều hoàn toàn có thể? Khi ấy, mợ đang hầu giá cô Chín thượng ngàn, mợ đẹp lộng lẫy và đầy quyền năng. Đứa con gái mười lăm trong tôi nửa tin nửa ngờ câu chuyện nhập đồng nơi cửa Thánh, nhưng vẫn thấy hấp lực vô cùng với hình ảnh mợ nhảy múa giao cảm nơi cõi thần linh. Mỗi lần chứng kiến cách mợ thăng đồng, ban tài phát lộc, tôi nghĩ dù cho đấng tối cao nào đang ứng nhập, thì chắc mợ vẫn nhận rõ trong đám chúng tôi ai là người thân kẻ sơ. Không hiểu sao, với tôi suốt cả tuổi thơ khi ấy, mợ Thẩm luôn là một hình mẫu đẹp đẽ, yêu kính và đầy bí ẩn.
Vậy nên vào lúc mợ ban cho tôi không phải bông lan tiêu mà là trái ớt, một trái ớt to đẹp nhưng chắc là cay lắm, nó khiến tôi buồn nhưng cũng chưa dám nghĩ lòng mợ thờ ơ. Cầm trái ớt trở về đưa bố vào đêm hôm ấy, bố tôi thích mà tôi không sao ngủ được. Tự tôi cứ mường tượng lại toàn bộ khung cảnh giá hầu lung linh và thiêng liêng của mợ, và hình ảnh chính mình ra đứng một góc sân đình trong đêm tối, lặng lẽ rấm rứt khóc. Đứa trẻ mười lăm trong tôi khi ấy sao mà quá nhạy cảm, cứ mãi buồn bã mộng mị, nghĩ những điều xa xôi tận đẩu tận đâu, những dự cảm chẳng hợp lí tí nào với một đứa trẻ.
Tôi hờn giận giả vờ không nhìn thấy những lần sau đó mợ thong thả đạp xe bên kia bờ sông. Tôi có ý trách mợ, hay tự trách mình có gì sơ suất khiến mợ chưa đủ yêu quý khiến bông lan tiêu thơm tho tôi không có được. Bấy nhiêu ý nghĩ lộn xộn không sao cắt nghĩa được rõ ràng, nhưng tôi bắt đầu suy tư nhiều hơn về hình bóng của mợ, hoàn cảnh riêng của mợ. Mợ đã ở vậy bấy nhiêu năm rồi? Tôi nhớ có lần mẹ tôi xa xôi, rằng những người vợ liệt sĩ đang ở vậy thờ chồng nuôi con, họ đáng lẽ có thể tìm được hạnh phúc, nhưng chính họ cũng đang phải chịu nhiều áp lực. Có phải, đằng sau nụ cười ấm áp và ánh mắt lấp lánh của mợ Thẩm, cũng ẩn chứa những nỗi niềm thăm thẳm, mà tôi khi ấy, đã lớn đâu để có thể hiểu được!
Bây giờ thì mợ Thẩm đã có tuổi lắm rồi, nhưng vẫn đẹp, cái đẹp của tuổi già an nhiên đầm ấm bên con cháu đề huề, nhà mợ vẫn ở bên kia sông. Nhớ có lần sau đêm Rằm ấy ít lâu, mợ gọi với tôi, bảo sang đây mợ cho mấy bông ngọc lan thơm lắm. Có phải mợ muốn an ủi và đền nợ tôi đã khóc vì mấy bông lan tiêu? Dù sao khi đó tôi đã thấy vui trở lại, nhưng cũng không sao quên được bông lan tiêu ngày ấy, cho đến tận bây giờ.
Sau này, nhiều lần nhớ đến mợ Thẩm và đêm Rằm tháng bảy năm nào, tôi như chợt hiểu. Trái ớt cay chưa chắc là không tốt. Bông lan thơm chưa hẳn đã an lành. Năm tháng qua đi, sẽ phủ lên đời người những cung bậc sắc màu của số phận, khi da diết buồn sâu, lúc dịu dàng đắm đuối, có khi đau, lại cả khi khóc, khi cười. Ở đời, điều ta muốn cho dù đơn sơ giản dị có khi không thể đạt được, cuộc đời có thể sẽ đem đến cho ta vô vàn cay đắng mà dù không muốn, rốt cuộc ta vẫn phải nhận lấy, để có thể lớn lên trong hành trình đi tìm ý nghĩa cuộc sống của riêng mình. Có phải mợ muốn nói với con như vậy không?
Chúng ta đã sống, làm nên cuộc đời mình ở giữa chốn nhân gian buồn vui thăm thẳm, ai rồi cũng sẽ đến ngày tạm biệt để rời sang một bờ bến mới. Bông lan tiêu của tháng năm, mùi hương của lòng ta còn đọng lại...
Những bông hoa khoe sắc trong vườn hoa đẹp