KỲ I: CHUYỆN "DỊ NHÂN LỖ BAN" VÀ NHỮNG CỔ VẬT VÔ GIÁ
Từ quận trung tâm Ninh Kiều (Cần Thơ), chỉ mất khoảng 30 phút là tôi đến được ngôi nhà cổ 140 tuổi, tọa lạc tại số 26/1 đường Bùi Hữu Nghĩa, Khu vực 3, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy (Cần Thơ) của gia tộc họ Dương, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia vào từ đầu năm 2009. Nhà cổ Bình Thủy tọa lạc trên một thửa đất rộng gần 1 hecta theo hướng đông - tây. Trước mặt là đường giao thông và sông rạch; quanh là vườn cây trái, hoa kiểng (nhiều nhất là hoa phong lan nên người dân Cần Thơ còn gọi đây là Vườn lan - PV) khiến không khí cả khuôn viên ngôi nhà luôn mát mẻ, thể hiện sự trù phú, bình dị nhưng tao nhã.
Người đứng trước cổng chờ tôi là ông Dương Minh Hiển - người Tây Đô quen gọi ông là "Hai nhà cổ". Ông là trưởng nam hậu duệ đời thứ sáu, hiện cũng là chủ nhân của ngôi nhà cổ - phủ thờ gia tộc họ Dương.
Thật thú vị khi trên phần sân trước, gia chủ trồng nhiều loại cây kiểng, dược liệu quý. Tôi thắc mắc trước một loại dây leo có trái với hình thù khá lạ. Ông Hai nhà cổ cho biết đó là dây… vú bò, đơn giản là vì nó rất giống núm vú của con bò sữa. Rồi ông lật bật vào nhà bưng ra keo rượu ngâm với trái vú bò chín, có màu đo đỏ chẳng khác gì rượu ngoại. Ông cẩn thận rót mời tôi một ly và nói với giọng tự hào: "Đây là rượu do chính tay tôi điều chế. Khách quý đến đây đều được tôi mời thưởng thức ly rượu này. Nó không phải là rượu ngon đơn thuần đâu mà trị được nhiều bệnh, trong đó có cả chuyện ông uống bà khen…".
Tôi nhìn về góc sân bên trái nhà và đặc biệt chú ý đến cây xương rồng hình trụ cao khoảng chục mét. Ông Hai nhà cổ cho biết, đó là cây xương rồng
Tôi bước lên Phủ thờ, có 4 lối dẫn lên nhà chính. Hai lối từ bên hông nhà lên thẳng 2 gian ngoài cùng; hai lối còn lại kiểu Gotique với 4 bậc thang hình cánh cung tao nhã kết nối với khoảng sân rộng dẫn vào gian giữa. Mặt đứng từ đường có 5 gian, cửa gỗ lá sách theo phong cách Art Nouveau (một loại hình nghệ thuật trang trí châu Âu thịnh hành vào đầu thế kỷ XX với vòm cửa hình vòng cung), cột gạch vuông được đắp nổi hoa văn dây lá nho, sóc bằng xi măng.
Theo lời ông Hai nhà cổ, Phủ thờ này được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1870 bằng gỗ, lợp ngói, gồm 5 gian, quy cách 25 x 25m. Đến những năm đầu thế kỷ XX, gia đình đã xây mới để mở rộng không gian tiếp khách và sinh hoạt trong các dịp lễ, giỗ. Câu chuyện xây nhà là câu chuyện đặc biệt thú vị
Ông Hai nhà cổ từng được nghe kể lại rằng, hồi đó, ở làng Long Tuyền này có ông Ba Nghĩa, bà con quen gọi là Thầy Lỗ Ban, nổi tiếng là do ông cất nhà đẹp… dữ trời. Thầy Lỗ Ban thuộc dạng dị nhân. Cao chỉ khoảng hơn 1 thước nhưng lưng ông lại cong như lưng con tôm. Suốt năm này qua tháng nọ, người ta chỉ thấy ông vận chiếc quần độc bằng lĩnh đen, đầu quấn khăn điều đỏ. Đi đâu, ông Thầy Lỗ Ban cũng mang theo chiếc rìu và một cái nẻ mực tàu. Và đây cũng chính là hai dụng cụ giúp ông đẽo ra những cây cột nhà, cột đình, chùa bằng gỗ lim thẳng như ruột bút chì.
Có tài nhưng Thầy Ba Nghĩa cứ nghèo. Ông giải thích với mọi người rằng cái nghề thợ mộc này là vậy đó. Cất nhà xong, hễ gia chủ làm ăn phất lên bao nhiêu thì thầy thợ làm nên cái nhà đó bần cùng xuống bấy nhiêu. Do chính lời giải thích này mà ông nội của ông Hai nhà cổ từng cam đoan với Thầy Ba Nghĩa rằng: "Thầy đừng lo. Cất nhà này xong, mỗi tháng tôi sẽ chu cấp cho nhà thầy một đấu gạo với ba cắc bạc. Tôi và con cháu tôi sẽ làm chuyện này cho tới khi ông theo ông, theo bà".
Chuyện hai bên, gia chủ và ông Thầy Lỗ Ban thỏa thuận nhau thế nào con cháu của gia tộc họ Dương hiện không được nghe kể thêm nhưng dân làng Long Tuyền cứ đồn thổi rằng: Chính nhờ Thầy Ba Nghĩa "yểm bùa, bỏ ngải" nên chủ nhân của ngôi nhà lúc bấy giờ mới giàu có nhanh như vậy. Vẫn theo lời kể, cũng chỉ với cây rìu thôi, Thầy Ba Nghĩa đã đẽo toàn bộ vì kèo, bao lam, 4 hàng cột (gồm 24 chiếc) với đường kính mỗi cột khoảng 30cm và cao từ 4 - 6m. Để cho bề mặt của cây được nhẵn bóng, nghe đâu Thầy Lỗ Ban đã dùng mảnh chai chuốt ngày, chuốt đêm; thỉnh thoảng ông dùng tới xơ mướp, xơ dừa để chà bóng. Đáng nể hơn, toàn bộ hệ thống cột, kèo, bao lam,… được kết nối với nhau bằng mộng ngàm, chớ chẳng phải bằng đinh sắt. Nghe đâu, phải gần 20 năm, ngôi nhà mới được hoàn tất…
Để chống mối mọt và độ phèn từ đất phì lên, chủ nhân của căn nhà lúc bấy giờ đã cho đổ một lớp muối hột dày cả 2 tấc trước khi lót nền. Ông Hai nhà cổ cho biết: "Lúc ông tôi làm nhà là lót gạch tàu như ngoài sân. Sau này, ba tôi mua gạch hoa văn sang trọng này từ bên Pháp đổi vào. Phía dưới mỗi tấm gạch đều còn dấu xuất xứ". Xung quanh nhà xây tường gạch kết dính bằng hồ vôi được lấy từ nhựa cây ô dước (do lúc đó chưa có xi măng - PV). Mái nhà được lợp bằng 3 lớp ngói, trong đó có lớp nhúng vôi bột trắng tạo cảm giác khoáng đãng, sáng sủa...
Tìm hiểu về những di vật gắn liền với ngôi nhà cổ, theo lời ông Hai nhà cổ, trong những năm gia đình di tản "tiêu thổ kháng Pháp", tài sản quý trong ngôi nhà cổ thiếu vắng người trông coi nên bị mất (đồ gốm sứ và nhiều tấm liễn, thậm chí chậu kiểng) và thất lạc khá nhiều. Nhưng theo quan sát của chúng tôi, đồ cổ trong căn nhà ấy vẫn còn nhiều món khó mà định được bằng giá trị kim tiền. Đó là hai bộ bàn ghế xuất xứ từ Vân Nam (Trung Quốc), mặt bàn bằng đá cẩm thạch, vân xanh, đường kính 1,5m, dày hơn 6cm; bộ xa lông kiểu Pháp đời Louis XV mặt bàn bằng đá cẩm thạch sắc xanh. Bộ bàn tiếp khách bằng gỗ lim với chi tiết rồng phụng được chạm, khắc điêu luyện. Gia chủ từng mướn thợ cẩn xà cừ từ miền Bắc vào để cẩn chiếc ghế này.
Trong nhà cổ, chúng tôi thấy có một bàn rửa tay bằng gốm sứ kết hợp với gỗ, 1 két sắt, nhiều độc bình trang trí (trong đó có độc bình "Thành Hóa Niên Chế" 538 năm; một độc bình men lam với họa tiết phỏng theo điển tích "Lưu Bị tam cố thảo lư"), bình đựng rượu, bàn tủ thờ, chiếc lư đồng có 3 chân vạc và 2 đầu nghê, dưới đáy lư có một dấu triện 6 nét thuộc loại "đại triện tối cổ". Trên trần nhà có mấy chiếc đèn bạch đăng thế kỷ XVIII; cặp đèn treo thế kỷ XIX, có xuất xứ từ Pháp.
Trong một chiếc tủ gỗ cổ, còn lưu giữ nhiều chung, chén, đĩa. Trong số này, đáng nể nhất là chiếc chén "Tuyên Đức Niên phụng" từ đời nhà Minh (Trung Quốc) có niên đại gần 600 năm,…
Trên tường sảnh giữa gian nhà cổ, có treo trang trọng một tấm ảnh cụ Dương Chấn Kỷ (tức ông nội của ông Hai nhà cổ). Nhiều người đến đây đã rất ngạc nhiên khi được biết bức ảnh này được đúc bằng sành tráng men - một công nghệ mà ứng với thời điểm đó, chỉ có ở Trung Quốc và Pháp. Nghe kể, bức ảnh này cũng trải qua biến cố thăng trầm, có lúc gia tộc họ Dương phải đem giấu xuống bùn để tránh bom đạn.
Dân săn lùng đồ cổ vẫn thường xuyên tìm về đây "gạ" gia đình bán những thứ đồ cổ có trong ngôi nhà nhưng rồi phải ra về tay không. Ông Hai nhà cổ kể, cũng có lúc gia đình rơi vào cảnh túng thiếu, không có cái ăn, bản thân ông và ba của ông phải đi làm mướn, kiếm tiền chứ không bán đồ gia bảo của dòng tộc.
Lãnh đạo Bảo tàng TP Cần Thơ cho biết, Phủ thờ họ Dương là một trong những ngôi nhà cổ ở Nam Bộ còn lại tương đối nguyên vẹn, được các hậu duệ giữ gìn khá tốt. Không "lớn tuổi" hơn nhiều đền, tháp cổ tại đất phương Nam này nhưng nhà cổ Bình Thủy ẩn chứa bên trong những phong tục tập quán, câu chuyện lý thú, giai thoại hấp dẫn về các nhân vật đã khai phá và sinh sống ở vùng đất mới này. Dù quá trình xây dựng ngôi nhà đã chịu ảnh hưởng không nhỏ của nghệ thuật phương Tây nhưng vẫn không làm mất đi cái hồn dân tộc trong không gian thờ cúng, trong sử dụng hoa văn, họa tiết trang trí. Sự giao tiếp văn hóa Đông - Tây trong căn nhà được chọn lọc, tiếp thu, vận dụng một cách tài tình, hợp lý, tạo phong cách riêng, sang trọng nhưng bình dị, gần gũi, tân kỳ mà không lạc lõng giữa khung cảnh làng quê Bình Thủy yên ả.
Không chỉ mang giá trị lịch sử đầy cảm động, ngôi nhà cổ còn gắn với câu chuyện văn hóa rất đặc sắc. Ông Hai nhà cổ cho biết, khi đạo diễn người Pháp Jean.J Annaud chọn đây làm cảnh quay cho một bộ phim, nhà Nam Bộ học Sơn Nam phải tham gia sắp xếp cảnh trí mất cả tuần. Về chuyện ngôi nhà cổ trở thành phim trường của bộ phim có giá trị đầu tư 27 triệu USD cách nay ngót 20 năm, ông Hai nhà cổ tâm đắc: "Chỉ quay ở đây có 10 ngày thôi nhưng tôi thật sự thích mắt trước kiểu làm phim của họ”.
Cảm thấy mỹ mãn với bối cảnh quay, đạo diễn Jean Annaud trước khi rời Tây Đô đã đáp lại tình cảm của chủ gia bằng món quà là mảnh màn cửa bằng gấm nơi Jane March từng lướt qua với hy vọng gia chủ cảm nhận được chút… mùi hương của mỹ nhân (cả trong phim lẫn ngoài đời). Trước khi phim ra mắt công chúng, đạo diễn người Pháp còn gởi ông Hai nhà cổ dòng thư bộc bạch suy nghĩ của mình: "Tôi choáng ngợp bởi sự đẹp lộng lẫy rất ấn tượng của ngôi nhà này. Hy vọng rằng, qua bộ phim, ngôi nhà sẽ được nổi danh khắp thế giới".
Ông Hai nhà cổ cho biết, trước khi ê kíp làm phim đến đây, ngôi nhà cổ cũng đã là phim trường của rất nhiều bộ phim của các đạo diễn lừng danh trong nước. Đầu tiên (năm 1985) là “Bão U Minh”, tiếp theo là “Bẫy ngầm”, “Đội nữ biệt động mùa thu”, “Dòng sông hoa trắng”, “Những nẻo đường phù sa”, “Công tử Bạc Liêu”, “Vòng hoa Chôm pay”, “Nợ đời”, “Con nhà nghèo”, “Chuyện cổ tích Việt Nam”…
(Còn nữa)