Ngày 22/8, Hội Tim mạch học Việt Nam và Phân hội Tim mạch học can Thiệp Việt Nam tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế "Triết lý mới trong can thiệp động mạch vành phức tạp”. Một trong những nội dung được đặc biệt quan tâm là các ca can thiệp động mạch vành phức tạp được truyền trực tiếp từ Viện Tim mạch – Bệnh viện 19-8, Bộ Công an tới hội trường.
GS.TS Phạm Mạnh Hùng, Viện trưởng Viện Tim mạch - Bệnh viện 19-8, Chủ tịch Phân hội Tim mạch học can thiệp Việt Nam, chủ toạ hội nghị, cho biết, đây là lần đầu tiên và ngay sau khi thành lập (tháng 2/2026), Viện Tim mạch – Bệnh viện 19-8 thực hiện can thiệp động mạch vành phức tạp trước một diễn đàn khoa học quốc tế, có sự tham dự của nhiều chuyên gia tim mạch can thiệp đến từ Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Đài Loan, Hồng Kông cùng các chuyên gia và bác sĩ can thiệp đến từ nhiều trung tâm tim mạch lớn trên cả nước.
Theo GS Hùng, ở lĩnh vực tim mạch can thiệp, các bác sĩ của Viện Tim mạch - Bệnh viện 19-8 từng bước làm chủ những kỹ thuật từ can thiệp động mạch vành thường quy đến những trường hợp khó và phức tạp hơn, đồng thời phát triển các phương pháp hỗ trợ can thiệp hiện đại như siêu âm trong lòng mạch (IVUS), đánh giá sinh lý tuần hoàn vành, các kỹ thuật xử trí tổn thương vôi hóa, tổn thương chia đôi, tổn thương dài và những bệnh cảnh động mạch vành phức tạp.
Tới đây, Viện Tim mạch sẽ triển khai mổ tim mở thường quy để điều trị cho những bệnh nhân không thể can thiệp nội khoa hoặc ngoại khoa hiệu quả, các ca cần mổ sớm, hoặc phối hợp giữa bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ can thiệp để đạt hiệu quả tối ưu. Dự kiến đến tháng 10 năm nay sẽ lắp đặt thiết bị và hoàn thành vào cuối năm 4 phòng mổ/can thiệp, trong đó có 1 phòng phối hợp (phòng hybrid) vừa phục vụ mổ hở vừa phục vụ can thiệp mạch.
Việc Bệnh viện 19-8 được lựa chọn là địa điểm thực hiện các ca can thiệp trực tiếp trong một hội nghị quốc tế chuyên sâu vì thế mang ý nghĩa đặc biệt, không chỉ đòi hỏi bác sĩ thực hiện có kỹ năng can thiệp, mà còn yêu cầu cả một hệ thống vận hành đồng bộ.
Theo GS Hùng, bệnh lý tim mạch ngày càng gia tăng và trẻ hoá, đặc biệt là nhồi máu cơ tim. Theo thống kê, dựa trên các ước tính lâm sàng thực tế, số ca nhồi máu cơ tim hoặc hội chứng mạch vành cấp xảy ra tại Việt Nam vào khoảng hơn 100.000 ca mỗi năm.
Mặc dù chưa có cuộc điều tra quy mô toàn quốc, các nghiên cứu đơn lẻ ở quy mô nhỏ cho thấy tỷ lệ người dân thực tế mang bệnh lý động mạch vành đáng kể chiếm khoảng 5% đến 7% dân số (tương đương với hàng triệu người từ mức độ nhẹ đến nặng).
Trong tổng số các ca tử vong tại Việt Nam, bệnh lý tim mạch chiếm tới 33%. Đáng chú ý, trong số 33% tử vong do tim mạch này, có khoảng 60% ca liên quan trực tiếp đến bệnh lý động mạch vành. Nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này là có liên quan mật thiết đến lối sống của người bệnh.
"100% bệnh nhân trẻ tuổi bị nhồi máu cơ tim được được ghi nhận có hút thuốc lá, đi kèm với béo phì và yếu tố tiền sử gia đình. Lối sống không lành mạnh đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sức khỏe tim mạch của người trẻ", GS.TS Phạm Mạnh Hùng nhấn mạnh.
Để kiểm soát nguy cơ mắc bệnh mạch vành, vị chuyên gia khuyến cáo người dân nên tập luyện thể dục và chế độ ăn điều độ, đây là giải pháp then chốt.
Ông cũng cho biết, tim mạch can thiệp Việt Nam đã có những bước tiến rất nhanh, đã làm chủ nhiều kỹ thuật can thiệp tiên tiến, kể cả những kỹ thuật dành cho các tổn thương động mạch vành khó và phức tạp. Các bác sĩ Việt Nam không chỉ học hỏi từ các đồng nghiệp quốc tế mà đã ngày càng tự tin cùng trao đổi, cùng thực hiện ca bệnh và chia sẻ kinh nghiệm của chính mình với các chuyên gia trong khu vực và trên thế giới.
Hiện cả nước có hơn 130 trung tâm can thiệp động mạch vành trên cả nước với khoảng 50.000 ca thực hiện mỗi năm. Trước đây, những ca bệnh mạch vành phức tạp như vôi hóa, tắc nghẽn mãn tính hoàn toàn (CTO), tổn thương ở các vị trí trọng yếu như thân chung, hoặc trên bệnh nhân thể trạng quá yếu bắt buộc phải mổ phanh. Hiện nay, các tiến bộ mới đã cho phép can thiệp nội mạch hiệu quả cho cả những bệnh nhân yếu không thể phẫu thuật hoặc từ chối mổ phanh.
GS Hùng nhấn mạnh việc áp dụng các kỹ thuật mới như stent tự tiêu và bóng phủ thuốc để tối ưu hóa kết quả, thay vì chỉ đặt stent tràn lan. Ông khẳng định tầm quan trọng của việc chia sẻ kinh nghiệm quốc tế để nâng cao tay nghề cho đội ngũ bác sĩ trong nước.
Viện trưởng Viện Tim mạch cho biết, triết lý của can thiệp mạch vành hiện đại đang thay đổi rất nhanh và mục tiêu cuối cùng không phải là đặt được bao nhiêu stent hay thực hiện được một kỹ thuật phức tạp đến mức nào. Điều quan trọng là lựa chọn được chiến lược tối ưu cho từng người bệnh, giải quyết tốt tổn thương nhưng đồng thời hạn chế tối đa những gì không cần thiết phải để lại trong lòng mạch.
"Bác sĩ luôn đặt lợi ích lâu dài của bệnh nhân là trên hết. Không phải cứ mạch vành hẹp là đặt stent. Tại những vị trí không thực sự cần đặt stent, bác sĩ ưu tiên sử dụng bóng phủ thuốc để nong mạch. Với những bệnh nhân còn trẻ tuổi, đặt stent tự tiêu là giải pháp tối ưu. Khung stent này sẽ tự tiêu biến hoàn toàn sau 3–4 năm, trả lại lòng mạch tự nhiên. Về lâu dài, nếu mạch vành xuất hiện hẹp lại, việc tái can thiệp tại vị trí này sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với một mạch vành đã bị cố định vĩnh viễn bởi khung kim loại", GS Hùng nhấn mạnh.
Ở bệnh nhân trẻ tuổi, cần bảo tồn sức lao động và có kỳ vọng sống rất dài (từ 20–30 năm hoặc hơn), can thiệp cho người trẻ bắt buộc phải tính toán chiến lược bảo tồn lòng mạch cho tương lai nhiều chục năm sau của họ.
Còn với bệnh nhân cao tuổi, GS Hùng cho biết, kỳ vọng sống không quá dài, ít có nhu cầu lao động nặng, tổn thương mạch vành thường vôi hóa phức tạp. Do đó, chiến lược điều trị thường tập trung vào các biện pháp tương đối ngắn hạn, không quá phức tạp hoặc can thiệp quá quyết liệt.
Hội nghị quy tụ hơn 200 chuyên gia hàng đầu về tim mạch can thiệp trong và ngoài nước, tập trung vào một trong những lĩnh vực khó và phát triển nhanh nhất của tim mạch hiện đại: Can thiệp động mạch vành khó và phức tạp. Việc Việt Nam đảm nhiệm vai trò nước chủ nhà của một hội nghị quốc tế, phản ánh bước tiến đáng kể về năng lực chuyên môn, đào tạo và hợp tác quốc tế của tim mạch can thiệp Việt Nam. Từ chỗ tiếp nhận kỹ thuật từ các trung tâm lớn trên thế giới, tim mạch can thiệp nước ta đang từng bước chuyển sang giai đoạn làm chủ kỹ thuật, chuẩn hóa thực hành, đào tạo thế hệ kế cận và chủ động tham gia vào các diễn đàn học thuật quốc tế.