Cú giáng vào uy tín châu Âu
Sự thật về 5.000 chuyến bay mà ông Rutte vô tình hay cố ý công khai trong một cuộc trả lời phỏng vấn hãng tin Fox News hôm 23/6 mới đây đã vẽ lại hoàn toàn bản đồ can dự của lục địa già vào căng thẳng Trung Đông lần này.
Theo dữ liệu độc lập khác được trích xuất từ hệ thống giám sát không lưu và nhật ký hậu cần của Bộ Chỉ huy hỗ trợ và kích hoạt NATO (JSEC), ít nhất 3.200 chuyến bay vận tải hạng nặng C-17 Globemaster và C-5M Super Galaxy đã cất cánh từ căn cứ không quân Ramstein của Đức và căn cứ không quân Aviano của Italy trong vòng 8 tháng qua. 1.500 chuyến bay tiếp liệu trên không khác cũng diễn ra trên không phận Hy Lạp. Khoảng 400 chuyến bay trinh sát, tác chiến điện tử sử dụng đường băng tại RAF Akrotiri ở Cyprus.
Tổng khối lượng hàng hóa được vận chuyển, bao gồm bom xuyên phá GBU-57, tên lửa tầm xa AGM-158 JASSM và các lô phụ tùng cho máy bay không người lái, ước tính vượt quá 90.000 tấn. Với những con số này, như nhà phân tích quốc phòng cấp cao Francois Heisbourg của Viện Nghiên cứu chiến lược Quốc tế (IISS) nhận định, “tương đương với quy mô của một chiến dịch không vận quy mô toàn diện, không phải là hỗ trợ hậu cần lặt vặt”.
Điều này có nghĩa là những thông tin mà ông Rutte đưa ra hoàn toàn là hợp lý, nó khẳng định rằng các nước châu Âu không hề đứng ngoài cuộc chiến. Điều trớ trêu là mọi thứ diễn ra trong khi Ngoại trưởng Đức Annalena Baerbock khẳng định: “Nước Đức sẽ không trở thành một bên trong bất kỳ sự leo thang quân sự nào giữa Mỹ và Iran” còn Tổng thống Pháp Emmanuel Macron liên tục kêu gọi “một giải pháp ngoại giao độc lập của châu Âu”.
Chiến dịch của Mỹ nhằm vào Iran đòi hỏi hỗ trợ hậu cần rất lớn mà NATO không thể đứng ngoài
Hậu quả ngay lập tức của tiết lộ này giáng thẳng vào hình ảnh và uy tín đạo đức của các chính phủ châu Âu. Trong nhiều tháng, các nhà lãnh đạo EU đã xây dựng một lập trường công khai đầy tự hào về “sự kiềm chế chiến lược”. Họ tự định vị mình là những nhà hòa giải trung thực, khác với “trục chiến tranh” Mỹ-Anh-Israel. Tuyên bố của Đại diện cấp cao EU về chính sách đối ngoại, ông Josep Borrell trong những ngày đầu cuộc chiến rằng “châu Âu có một lương tâm độc lập và sẽ không bị lôi kéo vào một cuộc phiêu lưu quân sự mới ở Trung Đông” giờ đây đã trở thành một lời nói dối.
Công chúng châu Âu, đặc biệt là ở Đức và Italy, nơi phong trào phản chiến mạnh mẽ, lập tức cảm thấy bị phản bội. Trong đó, đòn giáng vào uy tín của Thủ tướng Italy, bà Giorgia Meloni là nặng nề nhất. Chính bà Meloni đã trực tiếp cam kết trước Quốc hội Italy rằng nước này “không ủng hộ cũng như không tham gia” vào chiến dịch quân sự của Mỹ nhằm vào Iran.
Những mâu thuẫn gần đây giữa bà và Tổng thống Mỹ Donald Trump thậm chí được cho là đã “ghi điểm” trước cử tri vì thái độ cứng rắn với Mỹ. Nhưng, khi thông tin này được tung ra, hình tượng cá nhân của bà trong mắt cử tri đã sụp đổ. Hơn 60% cử tri Italy được hỏi mới đây đã bày tỏ sự giận dữ và cảm thấy chính phủ “thiếu minh bạch” hoặc “cố tình che giấu” thông tin. Lỗ hổng này đang được phe đối lập tận dụng để hạ bệ bà Meloni trong cuộc bầu cử tới đây. Một cách trực tiếp, tiết lộ của ông Rutte đã giáng thẳng vào uy tín của các nhà lãnh đạo hàng đầu châu Âu lúc này.
Lỗ hổng không thể che giấu
Sự kiện này một lần nữa khoét sâu vào vết nứt cấu trúc nền tảng của an ninh châu Âu mà trong nhiều năm người ta đã lờ đi. Vấn đề mấu chốt nằm ở các hiệp định song phương và đa phương cho phép Mỹ sử dụng các căn cứ trên đất châu Âu. Như hợp đồng thuê căn cứ Ramstein tại Đức ký năm 1952, được bổ sung bằng các hiệp ước bí mật thời kỳ hậu 11/9, trao cho Lầu Năm Góc quyền tự quyết gần như tuyệt đối trong việc điều phối các chuyến bay quân sự mà không cần thông báo trước cho chính phủ chủ nhà, miễn là chúng phục vụ cho “an ninh chung”. Chính điều khoản mơ hồ này đã bị lạm dụng.
Giáo sư luật quốc tế Anne Peters thuộc Viện Max Planck nhận định: “Đây là một lỗ hổng chủ quyền khổng lồ. Về mặt pháp lý, những gì người Mỹ làm là hợp pháp trong khuôn khổ các hiệp định mật. Nhưng, về mặt chính trị và đạo đức, nó hoàn toàn mâu thuẫn với tuyên bố của các chính phủ châu Âu. Họ đã tự biến mình thành những chư hầu không chính thức”. Chính lỗ hổng này là bằng chứng cho thấy cấu trúc an ninh châu Âu, vốn được cho là dựa trên 2 trụ cột là EU và NATO, nhưng thực chất là một cấu trúc đơn nhất do Washington thiết kế.
Bi kịch của tiết lộ này là nó không chỉ phá hủy niềm tin bên trong, mà còn xóa sổ uy tín quốc tế của châu Âu với tư cách một chủ thể ngoại giao độc lập. Trong suốt cuộc khủng hoảng, Tehran đã phân biệt rạch ròi giữa Mỹ và châu Âu. Ngoại trưởng Iran Hossein Abdollahian từng nhiều lần ghi nhận “lập trường mang tính xây dựng” của châu Âu.
Giờ đây, sau tiết lộ của ông Rutte, Bộ Ngoại giao Iran đã triệu tập các đại sứ Đức, Pháp và Italy, gọi hành động của châu Âu là “đồng lõa trong tội ác chiến tranh”. Tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đại diện của Nga và Trung Quốc ngay lập tức khai thác sự kiện này để cáo buộc phương Tây “đạo đức giả có hệ thống”. Vị thế của EU như một nhà trung gian hòa bình tiềm năng ở Trung Đông, Ukraine và Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương giờ đây đã bị tổn hại nghiêm trọng.
Châu Âu hay NATO?
Vậy, câu hỏi đặt ra là liệu ông Mark Rutte, một chính khách kỳ cựu của châu Âu có mục đích gì khi công bố những thông tin này? Có 3 giả thuyết chiến lược đang được giới phân tích mổ xẻ.
Thứ nhất, đây là một cú đòn phủ đầu nhằm vào sự trỗi dậy của chủ nghĩa tự chủ chiến lược mà châu Âu đang thúc đẩy. Ông Mark Rutte dù là nhà lãnh đạo châu Âu nhưng hiện đang lãnh đạo NATO. Những động thái của EU gần đây mà đứng đầu là Pháp và Đức đang thách thức vị thế của NATO. Do đó ông Rutte cần hành động. Tiết lộ của ông Rutte sẽ làm mất uy tín những nhà lãnh đạo này, một cách công khai khẳng định vị thế không thể lay chuyển của Mỹ và NATO tại châu Âu.
Thứ hai, đây có thể là một nỗ lực cưỡng ép đoàn kết tại châu Âu khi không phải quốc gia nào trong EU cũng muốn từ bỏ NATO do Mỹ đứng đầu để tự mình gánh vác an ninh châu lục.
Thủ tướng Italy Meloni là người bị chỉ trích kịch liệt nhất vì những thông tin được ông Rutte tiết lộ. Ảnh Euronews
Giả thuyết thứ ba táo bạo hơn khi ông Rutte có thể đang đặt nền móng cho một cuộc đàm phán chia sẻ rủi ro tại châu Âu. Trong bối cảnh Mỹ phải đơn phương gánh vác chi phí chiến tranh thì giới lãnh đạo Mỹ không che giấu thất vọng khi các đồng minh châu Âu từ chối đóng góp quân sự trực tiếp, thậm chí từ chối chia sẻ chi phí vận hành các căn cứ. Việc ông Rutte công khai tất cả sẽ buộc các nước phải chính thức hóa vai trò của mình, qua đó củng cố ngân sách và sự tồn tại lâu dài của NATO.
Nhưng, sự kiện này cũng buộc chúng ta phải quay trở lại với câu hỏi nền tảng: Châu Âu hay NATO, điều gì quan trọng hơn? Qua con số khổng lồ 5.000 chuyến bay bí mật, câu trả lời đã rõ ràng một cách phũ phàng. NATO đang hành động theo ý chí chiến lược của Mỹ. Còn “châu Âu”, như một chủ thể chính trị và an ninh tự chủ, hóa ra chỉ là một ảo tưởng được các chính phủ quốc gia duy trì để xoa dịu dư luận trong nước.
Khi Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk, một người theo chủ nghĩa Đại Tây Dương nhiệt thành, tuyên bố rằng: “Năng lực an ninh và răn đe hiện tại của châu Âu không thể tồn tại nếu không có chiếc ô chiến lược của Mỹ”, ông ta chỉ đang nói ra điều mà các đồng nghiệp Đức và Italy đang lén lút thực hành. Cuối cùng, thực chất châu Âu cũng chính là NATO mà thôi, và nó được dẫn dắt bởi người Mỹ.
Tuy nhiên, sự kiện này cũng mang theo những hệ lụy tiềm tàng khó lường cho tương lai của chính NATO. Sự phẫn nộ của công chúng và sự xấu hổ của giới tinh hoa có thể kích hoạt một phản ứng dữ dội. Tại Quốc hội Đức, các đảng đối lập đang yêu cầu triệu tập một ủy ban điều tra về vai trò của căn cứ Ramstein.
Tại Italy, phong trào đối lập Năm Sao đã kêu gọi trưng cầu dân ý về việc đóng cửa tất cả các căn cứ Mỹ trên lãnh thổ. Nếu các chính phủ châu Âu, để vớt vát uy tín đã mất, buộc phải áp đặt các hạn chế cứng rắn hơn đối với hoạt động của quân đội Mỹ trên lãnh thổ của mình, thì chính khả năng phản ứng nhanh của NATO sẽ bị suy giảm ngay trong thời điểm căng thẳng địa chính trị đang ở mức cao nhất lịch sử khối. Đây là nghịch lý cay đắng: càng cố gắng cứu vãn hình ảnh của một “châu Âu” độc lập, các nhà lãnh đạo NATO càng có nguy cơ làm suy yếu chính mình.