5 đêm của một đời thơ

Đời thơ Hoàng Cầm (1922-2010), ngẫm ra, là một đời thơ chủ về đêm. Có thể nói như vậy nếu ta căn cứ vào phần Vĩ thanh (viết năm 1992) của tập Về Kinh Bắc (hoàn tất bản thảo đầu năm 1960). Ở đó, dù còn tới 18 năm nữa mới chấm dứt sự tồn tại của kiếp người đa đoan trên cõi thế nhưng Hoàng Cầm đã kịp làm một cuộc “tính sổ” cho thi nghiệp của riêng mình.

Không hề là vô tình, ông cho ta biết rằng vào cái mùa rét năm 1959 ấy, khi “hồn tôi cứ chìm dần, chìm sâu, chìm và lắng thật sâu vào vùng quê tôi ngày xưa, thời tôi còn nhỏ dại, với biết bao bóng dáng, đường nét, màu sắc, hương vị đã quá xa, đã không còn nữa”, thì tập Về Kinh Bắc dần hình thành, theo một cách vô cùng đặc biệt: “những bài được nhiều bạn đọc ưa thích trong nhiều năm thì bao giờ cũng ra đời trong đêm và vài ba câu đầu bao giờ cũng không phải của tôi nghĩ ra, mà đúng thật là bao giờ cũng văng vẳng bên tai như có một giọng nữ đang hát, hay đang đọc có nhịp điệu, có tiết tấu, mà tôi cứ xin gọi là lời của thần linh đọc cho mình chép lại được”. 

Bỏ qua tình tiết mang đậm tính chất của một mặc khải linh diệu kia - nó có vẻ như là đối tượng khảo sát của các nhà phân tâm học thì đúng hơn - cái ta có thể ghi nhận là: đêm, ở tập thơ xuất sắc này, đã thực sự trở thành một thứ “dung môi”, đồng lõa và gây men trong cảm thức chập chờn mê-tỉnh của thi sĩ tài hoa vùng Kinh Bắc.

Nhà thơ Hoàng Cầm.
Nhà thơ Hoàng Cầm.

Không những thế, đêm còn đi vào cấu trúc nội dung của Về Kinh Bắc, làm thành nhịp Một (có tên Khấn nguyện) cho cuộc tuần du 8 nhịp của Hoàng Cầm (Bốn tám dáng thơ đi tám nhịp/ Tuần du chưa vợi khối ân tình). Như nhiều nhà phê bình đã nhận thấy, trọng tâm/xương sống của Về Kinh Bắc phải là nhịp Năm (có tên Còn em), đặc biệt tụ lại ở 5 bài: Cây tam cúc, Lá diêu bông, Quả vườn ổi, Cỏ bồng thi, Nước sông Thương - 5 cuộc đối đáp rất đậm màu sắc erotic giữa hai nhân vật Chị và Em. Tuy vậy, nhịp Một vẫn có vị trí riêng, không thể thay thế. 

Gồm 5 bài thơ đêm được đặt tên theo năm yếu tố tạo thành thế giới vật chất: Kim, Thủy, Thổ, Hỏa, Mộc. Có thể nói, không gian của nhịp Một là không gian của một vũ trụ thu nhỏ, ứng với ý niệm của Hoàng Cầm về vùng văn hóa Kinh Bắc mà hồn ông “cứ chìm dần, chìm sâu, chìm và lắng thật sâu”. 

(Tôi muốn dùng chữ “ý niệm” cũng bởi thế: Kinh Bắc ở đây, với Hoàng Cầm, không còn là một Kinh Bắc của thực cảnh như trong Bên kia sông Đuống ông viết thời gian đầu chống Pháp nữa rồi, cũng sẽ không phải là Kinh Bắc của các hoạt cảnh văn hóa/lịch sử như ở nhịp Hai, nhịp Ba, nhịp Sáu trong chính tập thơ này, mà đây hoàn toàn là một Kinh Bắc trong tâm cảnh). 

Không gian ấy đồng thời cũng là không gian được thiêng hóa, khi mà Quê và Mẹ đã hợp nhất để trở thành khởi nguyên huyền diệu cho một cuộc tìm về, như tín đồ tìm về đất thánh. (Có lẽ vì vậy mà nhịp Một có tên là Khấn nguyện chăng?). 

Ngôi nhân xưng ở 4 trong 5 bài thơ đêm, trừ bài Đêm Hỏa, là Con, một đứa trẻ vừa kính cẩn vừa mê đắm trước Quê/Mẹ: “Cúi lạy Mẹ con trở về Kinh Bắc/ Chiều xưa giẻ quạt voi lồng/ Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc/ Chuồn chuồn khiêng nắng sang sôngĐêm Thổ

Với cái tâm thức vừa kính cẩn vừa mê đắm của đứa trẻ-tìm-về ấy, nhịp Một dựng lên những câu thơ rất kỳ lạ, nó mờ mờ thấp thoáng dáng nét của một Kinh Bắc cổ xưa nhưng chủ yếu, nó tượng hình một thế giới đã thuộc hẳn về huyền thoại. Ví như những câu trong bài Đêm Thổ:

Đê mười tám khúc Văn Giang
Chuông Bách Môn đổ xô gò má
Mây thành thổi lửa
Nẻo Đông Triều khép mở gió kỳ lân
Chớp rạch dáng tiên vén xiêm xõa ngủ
Thoắt chìm
Gấu đẩy đá Thiên Thai
Đi đâu
Tràng mày xếch vòng cung bắn nát chiều mai ráng đỏ
Châu chấu ma vờn cổ yếm xây
”.

Hoặc những câu trong bài Đêm Kim:

Hình nhân má điệp tóc mực tàu
Mắt nghiêng dựa liếp
Mai nhảy vào đám lửa giỗ đầu
Gấm Song Cầu khoác lại áo ngày xưa
Da trứng bóc phủ bụi tàn nhang
Phía Đông kéo cưa xẻ gỗ
Phía Tây chầy nện ván thiên
Ông phó may già mười đêm chẳng ngủ
Rũ xô gai biển động tìm kim
”.

Hay những câu trong bài Đêm Hỏa:

Trăng lên chém đầu ngọn gió
Cành si bưng chậu máu chát chao
Cuối năm rì rầm tiếng khóc
Chàng ôi ngựa tía võng đào
Chợt mê thét giữa sân
Nét mác chữ Thiên toạc lưng trâu mộng
”.

Những câu thơ dẫn trên, có thể nói, đã ngay lập tức giải hóa cái định kiến khá sâu gốc bền rễ và khá phổ biến về Hoàng Cầm chỉ như một nhà thơ của quê hương quan họ với những liền chị lúng la lúng liếng, hay chỉ như một thi sĩ của những tình yêu trai gái lãng mạn đong đưa. 

Tuy nhiên, phẩm tính đặc biệt để Hoàng Cầm luôn là Hoàng Cầm, tức cái chất hoa tình nhục cảm ở bề sâu, cái ẩn ức mang hình hài những khát khao dục tính thì cũng đã kịp thể hiện rất đậm trong 5 đêm của nhịp Một: “Ngủ lại giấc mơ dang dở/ Chũm cau căng nứt mạch tằm/ Yếm may ba ngày mẹ vá lại/ Khuya nghe buồng động bóng đêm rằm” (Đêm Mộc). Hay: “Kèn già lam ai tập thổi/ Gió mất chồi xuân đay nghiến lũy tre dày/ Năm ba gã trai tập bài lưu thủy/ Một trẻ sơ sinh đuổi giọng mèo hoang/ qua miếu mưa phùn” (Đêm Kim). 

Nhưng, đặc biệt nhất, thậm chí có thể nói là toàn bích nhất, chính là bài Đêm Thủy. Vì bài thơ toàn bích nên cần thiết phải dẫn lại toàn văn:

Về Kinh Bắc phải đâu con nhắm mắt
Gài mảnh gương giàn thiên lý đợi tua rua
Chùa Phật Tích duỗi trong màn lụa bạch
Tượng Quan Âm má ửng bồ quân
Chuông chiều cởi yếm
Chuông sớm đội khăn
Câu kinh tê tê mười ngón tay măng
Mõ đêm hè cuốc lội
Ao mưa dằng dịt lá trường sinh
Gió vào trăm cửa
Gió ra hồng da trinh nữ
Gió vào xanh quan lục
Gió ra vàng thớ mít
Ong bay vai áo tiểu thon mình
Thập điện Diêm vương mở hội
Trong mắt trẻ lên năm
Trưa hè gãy rắc cành hoa đại
Mái hậu cung bồ các tha rơm
Liếu điếu vỗ hoa xoan lả tả
Lụa sồng nén nghẹn búp thanh xuân
Tờ kinh đắp mặt ru bươm bướm
Chuối chín cây đổ gục đứt dây bìm
”.

Một bài thơ vô cùng khó hiểu nhưng cũng vô cùng dễ hiểu. Khó hiểu bởi - giống như 47 bài còn lại của Về Kinh Bắc và khác với chính thơ Hoàng Cầm trước đó cũng như thơ Hoàng Cầm sau đó - cấu trúc của bài thơ không phải cấu trúc liên tưởng liền mạch mà là cấu trúc liên tưởng đứt đoạn. 

Những câu thơ đặt cạnh nhau, những thi ảnh xếp kề nhau, tất cả đều không theo một trật tự ngữ nghĩa mà người đọc có thể thâm nhập bằng tư duy duy lý. May ra, chỉ có thể nối kết chúng thông qua việc dùng tưởng tượng để lấp đầy những khoảng trống và những im lặng được tạo ra bởi sự đứt đoạn. 

(Có lẽ vì thế trong bài viết Đi tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy đã gọi kiểu cấu trúc này là “liên kết tự do các ý tưởng” và đã coi Về Kinh Bắc như một dạng của thơ siêu thực). 

Nhưng, dễ hiểu bởi, nếu ta chỉ cần một dùng một từ “sự sống” để “dĩ nhất quán chi” thôi, sẽ thấy tất cả những đứt đoạn rời rạc của bài thơ chỉ để nói về sự sống/sức sống/cái sống đang căng nhức, đang tuôn trào bất tuyệt, ở khắp nơi. Ngôi chùa, nơi chốn tịch mịch xa lánh bụi trần nhân thế ấy, ngay trong cái nhìn toàn cảnh của nhà thơ, đã mang hình dạng một thiếu nữ đang độ xuân thì. 

Vào cận cảnh thì lạ thay, toàn bộ nhịp sinh hoạt của chốn Phật môn như đã bị cuốn theo nhịp sinh hoạt của người con gái - hẳn là đẹp - xuất gia (Chuông chiều cởi yếm/ Chuông sớm đội khăn/ Câu kinh tê tê mười ngón tay măng) và cả không gian vốn để tịnh tâm cũng trở nên một không gian đầy rạo rực lôi cuốn (Gió vào trăm cửa/ Gió ra hồng da trinh nữ/ Gió vào xanh quan lục/ Gió ra vàng thớ mít). Đâu đâu cũng thấy biểu hiện của một cái sống phong nhiêu, tươi mởn (Mõ đêm hè cuốc lội/ Ao mưa dằng dịt lá trường sinh). 

Đến như hậu cung u tối thâm nghiêm là thế mà sức sống vẫn cứ nảy mầm: Thập điện Diêm vương không hù dọa, mà “mở hội”; trưa hè im vắng nhưng vẫn nghe “rắc” cành hoa đại gãy; lũ chim bồ các không ngán gì chốn thiêng, vẫn tha rơm về đó làm tổ cho con và đằng sau, bên trong lớp lụa sồng quấn chặt kia, dường như vẫn nấc tiếng dục vọng xuân thì đang “nghẹn” nỗi muốn bật chồi... 

Nếu nước là khởi nguồn của sự sống thì Đêm Thủy, có thể nói, đó chính là cách nhà thơ tuôn nguồn nước tươi mát của sự sống vào miền tịch diệt.

Nhà thơ Hoàng Cầm.
Nhà thơ Hoàng Cầm.

“Ai xuất bản mà nhiều đêm thế nhỉ?” - Trần Dần, một trong Tam vị làm nên cái Nhất thể trữ tình đầy tinh thần khai phóng của thơ Việt Nam giai đoạn 1950-1960 (Trần Dần - Lê Đạt - Hoàng Cầm) đã từng đặt một câu hỏi như thế. Thì, thơ Hoàng Cầm nói chung và tập Về Kinh Bắc nói riêng, theo một nghĩa nào đó, chính là câu trả lời. 

Đêm dày đặc trong tập Về Kinh Bắc. (Đỗ Lai Thúy nhận định trong bài viết đã dẫn ở trên: Đêm phủ đầy một bóng sáng xuống thi phẩm). Trên nền cảnh đó, nhắc lại, 5 bài thơ đêm của nhịp Một vẫn giữ một vị trí riêng, không thể thay thế. Bởi, nó là phần dẫn vào một thế giới rất dị biệt trong thơ Việt Nam thế kỷ XX, là nguồn phát động của hàng loạt chủ đề và motif hình tượng trong các nhịp sau của Về Kinh Bắc

Và, nếu coi tập thơ này như một giấc mơ-thơ mang năng lực xoa dịu những vết thương đang hoác ra từ cơn địa chấn dữ dội  nhất trong cuộc đời Hoàng Cầm, thì 5 đêm của nhịp Một - Khấn nguyện, có thể nói, chính là 5 mảnh mơ-thơ linh diệu nhất của một đời thơ.

Hoài Nam

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.