Ma túy tổng hợp "made in" Việt
Theo Cục CSĐT tội phạm về ma túy - Bộ Công an, thời gian gần đây, lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ 13 vụ việc liên quan đến việc lạm dụng tiền chất PSE để sản xuất ra Methamphetamine: Hà Nội 5 vụ, TP Hồ Chí Minh 5 vụ, Yên Bái 1 vụ, Thái Bình 1 vụ và Thanh Hóa 1 vụ.
Điển hình là vụ Lê Sĩ Thiệu, Lê Thị Thanh, Lê Thị Hưng ở Thọ Dân, Triệu Sơn, Thanh Hóa với tang vật thu được gồm 3 gói ma túy tinh chế, 380g ma túy tổng hợp, gần 60 nghìn viên và 94kg Tiffu Fu - loại thuốc có tiền chất PSE. Vụ án cho thấy, do lực lượng Công an đấu tranh quyết liệt với ma túy vận chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam, các đối tượng đã quay sang điều chế ma túy tổng hợp ngay trong nước, mà nguyên liệu chính là thuốc cảm cúm được mua tự do trên thị trường tân dược.
Đáng lo ngại khi ước tính, 1kg PSE có thể sản xuất được 600 gam ma túy tổng hợp. Chỉ cần bỏ ra 2 triệu đồng tiền thuốc cảm cúm là có thể sản xuất được lượng ma túy tổng hợp giá trị khoảng 25 triệu đồng, quả là siêu lợi nhuận.
Vì tính chất đặc biệt của vụ án khi lần đầu phát hiện việc sản xuất ma túy tổng hợp dạng tinh thể đã tinh chế trong nước, có chất lượng như ma túy vận chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam, lại có qui mô lớn, nên ngày 15/7/2011, Bộ Công an dã có Công văn 2073 gửi Thủ tướng Chính phủ, do Trung tướng Phạm Quý Ngọ, Thứ trưởng Bộ Công an ký: "đề xuất Thủ tướng chỉ đạo Bộ Y tế, Bộ Công thương làm tốt công tác quản lý, kiểm soát hóa chất, tiền chất (đặc biệt chú ý vào các tiền chất, hóa chất mà tội phạm có thể lợi dụng sản xuất Methamphetamine; Bộ Y tế cần cảnh báo các công ty, cửa hàng dược cảnh giác, nghiêm túc khi tiêu hủy các loại thuốc cảm cúm hết hạn sử dụng và không bán cho khách các loại thuốc cảm cúm số lượng lớn, không có đơn thuốc của bác sĩ". Ngày 27/7/2011, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã có ý kiến đồng ý với các kiến nghị của Bộ Công an.
Cục CSĐT tội phạm về ma túy (C47) cũng đã có Công văn số 1281, gửi Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế, khẳng định rõ các thông tin này, đồng thời đề nghị bổ sung, sửa đổi Thông tư số 11/2010/TT-BYT ngày 29-4-2010 của Bộ Y tế hướng dẫn các hoạt động liên quan đến thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc; có biện pháp quản lý chặt chẽ hơn việc mua bán, xuất nhập khẩu, quá cảnh, tạm nhập tái xuất các loại thuốc có chứa tiền chất PSE và Ephedrin mà tội phạm có thể lợi dụng để sản xuất ma túy tổng hợp".
Cần khẩn trương bịt kín các "kẽ hở"
Bộ Y tế cho rằng, số lượng PSE đầu năm 2011 tăng hơn so với năm 2010 là bởi thuốc thành phẩm ở dạng phối hợp nhập khẩu giảm, thay thế tiền chất phenylpropanolamine đã bị cấm sử dụng và lưu hành ở Việt Nam, dịch cảm cúm bùng phát nên nhu cầu sử dụng thuốc cúm tăng. Nhưng Thông tư 11/2010/TT-BYT ngày 29/4/2010 của Bộ Y tế đã qui định: "Khi dự trù số lượng thuốc hướng tâm thần và tiền chất vượt quá 50% so với số lượng sử dụng kỳ trước, cơ sở dự trù phải giải thích rõ lý do". Qui định là thế, nhưng có đơn vị nhập PSE tăng cao hơn nhiều lần, lại vẫn được Cục Quản lý Dược cho phép, khiến chính Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang phải lên tiếng: "Yêu cầu Cục Quản lý Dược phân tích việc duyệt dự trù PSE tăng đột biến vào cuối năm 2010 và 8 tháng đầu năm 2011 của một số doanh nghiệp".
Văn bản của Bộ Y tế cho rằng, các quy định hiện hành không cấm việc đóng gói lớn các thuốc thành phẩm dạng phối hợp có chứa tiền chất PSE, nhưng Thông tư 4-2008/TT-BYT của Bộ lại qui định: với các quy cách đóng gói lớn, nhãn phải ghi rõ "Thuốc dùng cho bệnh viện". Về vấn đề này, chính Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang cũng cho rằng "với thuốc có PSE dạng chai lớn là hoàn toàn không nên, vì nếu không quản chặt sẽ tạo điều kiện cho tội phạm lợi dụng thu gom để tổng hợp ra ma túy".
Lo lắng của Thứ trưởng Cao Minh Quang là có cơ sở, vì đợt kiểm tra của Cục Quản lý Dược mới đây cho thấy có hàng triệu viên thuốc có PSE đóng gói lớn theo qui cách "Thuốc dùng cho bệnh viện" đã được bán cho các đơn vị không phải là bệnh viện. Chính điều này cũng chỉ ra sự mâu thuẫn trong cách lý giải của Bộ Y tế rằng PSE là thuốc bán không cần đơn.
Thông tư 08/2009/TT-BYT ngày 1/7/2009 về danh mục thuốc không kê đơn, thì "thành phẩm chứa PSE chỉ được bán không cần đơn với số lượng tối đa cho 15 ngày sử dụng". Như vậy, việc đóng gói lớn tới 500, thậm chí 1.000 viên có thật cần thiết cho công tác điều trị? Liệu có phải có sự sơ hở trong quản lý tiền chất ở Bộ Y tế?
Văn bản của Bộ Y tế viện dẫn các văn bản pháp luật để chứng minh cho việc quản lý PSE là không sai, nhưng xem chừng, cách viện dẫn chưa đầy đủ dễ khiến người ta hiểu lầm. Hơn nữa, không có nghĩa là hôm nay, luật chưa đưa chất PSE vào danh mục cấm, thì nó mãi được bán tự do. Tuy nhiên, khi đã phát hiện tội phạm lợi dụng kẽ hở này để sản xuất ma túy, thì cần sớm được điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi cả luật như Cục C47 đã đề xuất.
Trên thực tế,