Nhiều điểm nghẽn
Sáng 7/10, Liên minh HTX Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức Diễn đàn “Chuyển đổi số trong HTX: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường” tại Hà Nội.
Diễn đàn nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số của Liên minh HTX Việt Nam.
Thực tế, chuyển đổi số đang trở thành một yêu cầu ngày càng rõ nét đối với khu vực kinh tế tập thể. Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần MUSA PACTA Bùi Khánh Dũng cho rằng, chuyển đổi số rất quan trọng trong sản xuất kinh doanh của HTX.
“Tính minh bạch là quan trọng nhất, bởi các chứng chỉ VietGAP hay Global GAP chỉ là tờ chứng nhận ngay thời điểm đó.
Con người có thể sai nhưng số liệu không thể sai được, cho nên tính minh bạch sẽ chiếm lợi thế. Nông nghiệp có chi phí rất khó tính đếm và định lượng, bởi có những hao hụt không thể định lượng nổi. Ví dụ như sản phẩm có sương muối sản lượng có thể hao hụt 50%. Nhưng khi ứng dụng chuyển đổi số sẽ biết sản phẩm hao hụt ở đâu. Vì vậy, chuyển đổi số rất quan trọng”, ông Dũng phân tích.
Dù được đánh giá quan trọng, song số liệu khảo sát từ Viện Khoa học Kinh tế hợp tác chỉ ra một thực tế đáng suy ngẫm: Chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể hiện mới đạt khoảng 29,5% — tức là chỉ vừa ở bước khởi đầu. Trong khi các thiết bị thông minh như smartphone đã rất phổ biến, việc đưa ứng dụng số vào quản trị, tổ chức sản xuất và phát triển thị trường vẫn còn rất hạn chế.
Đáng chú ý, trình độ nhân lực đang là rào cản lớn khi có tới 53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn và chỉ 13% có trình độ đại học trở lên. Tỷ lệ HTX sử dụng phần mềm quản trị hiện vỏn vẹn ở mức 15%. "Một HTX như vậy không thể tự thẩm định hợp đồng phần mềm", Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia Hoàng Hữu Hạnh (Bộ Khoa học và Công nghệ) thẳng thắn nhìn nhận.
Sự khập khễnh giữa năng lực vận hành và xu hướng chạy theo công nghệ tạo ra những "khoảng trống" lớn về dữ liệu. Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số Đào Ngọc Tuất (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) dẫn chứng một thực tế nghịch lý: Tính đến cuối năm 2025, cả nước có hơn 36.270 HTX với gần 7,1 triệu thành viên. Dù khoảng 35% HTX đã dùng mã QR để truy xuất nguồn gốc, nhưng chất lượng thông tin phía sau lại rất mỏng.
Cụ thể, trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ, trong số hơn 793.000 sản phẩm đăng ký tính đến tháng 8/2026, chỉ có 20% sản phẩm có đầy đủ thông tin để tra cứu. Đáng lo ngại hơn, trong hơn 3.000 nông hộ đăng ký, chỉ đúng 36 hộ cung cấp đủ dữ liệu (đạt 1,2%). Riêng trong giai đoạn tháng 7-8/2026, trong hơn 288.000 sản phẩm đăng ký mới, tỷ lệ ghi nhận thông tin hoàn chỉnh chỉ đạt... 0,1%.
Chính việc thiếu minh bạch dữ liệu khiến nông sản Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi. Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân dẫn ví dụ, cùng một hạt cà phê nhân xanh, có nơi chỉ bán được vài trăm nghìn đồng/kg, nhưng có nơi bán được hàng triệu đồng, thậm chí lên tới 15.000 USD/kg nhờ minh bạch hóa câu chuyện sản phẩm...
Cân đối bài toán chi phí và tính hiệu quả
Dù lợi ích thì ai cũng nhìn ra, nhưng hiện có một thực tế đang “làm khó” quá trình chuyển đổi số của các HTX, đó là chi phí. Khi chuyển đổi số, các khoản đầu tư khó tránh đối với nhiều doanh nghiệp, HTX gồm yêu cầu về hóa đơn, kế toán, truy xuất nguồn gốc, quản lý đơn hàng và kết nối hệ thống phân phối ngày càng cao. Song, với nhiều HTX có quy mô tài chính còn hạn chế, chi phí chuyển đổi số có thể ngang, thậm chí vượt lợi nhuận bình quân cả năm.
Theo TS. Chu Tiến Đạt (Tổng công ty VTC), đến hết năm 2025, cả nước có 35.041 HTX với khoảng 7,1 triệu thành viên. Bình quân một HTX có doanh thu khoảng 7,4 tỷ đồng nhưng lợi nhuận trước thuế chỉ 250,8 triệu đồng, tương đương cứ 100 đồng doanh thu tạo ra khoảng 3,4 đồng lợi nhuận. Trong khi đó, chi phí chuyển đổi số của một HTX có thể lên tới 200 - 300 triệu đồng mỗi năm, ngang bằng hoặc vượt lợi nhuận bình quân cả năm. Chỉ khoảng 15% cán bộ HTX nông nghiệp sử dụng thành thạo máy tính và phần mềm.
TS. Chu Tiến Đạt nhận định, đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều HTX còn chần chừ, hoặc triển khai chuyển đổi số theo chương trình hỗ trợ rồi dừng lại khi nguồn lực kết thúc.
Chia sẻ với vướng mắc này, ông Nguyễn Thanh Mộng, Giám đốc SORIMACHI Nhật Bản tại Việt Nam cho hay, khảo sát của đơn vị này cho thấy 73% HTX muốn kết nối dữ liệu kế toán với phần mềm bán hàng. Tuy nhiên, HTX không nên đầu tư tất cả phần mềm, công nghệ cùng lúc mà cần xác định vấn đề cần giải quyết trước để ưu tiên nguồn lực.
Ngay cả khi có khoảng 200 - 300 triệu đồng, phần dành cho phần mềm có thể chỉ chiếm 5 - 10%, phần còn lại dành cho con người, kỹ năng và các điều kiện để vận hành công nghệ. Chi phí thực tế còn gồm thiết bị, chuẩn hóa và nhập dữ liệu, đào tạo nhân lực, thời gian vận hành song song giữa phương thức cũ và hệ thống mới, phí giao dịch và khoản dự phòng.
Với ngân sách hạn chế, HTX có thể ưu tiên trước các công cụ phục vụ tài chính, kế toán, quản lý thành viên, hóa đơn điện tử và thanh toán; tiếp đó là bán hàng, quản lý kho, hồ sơ sản phẩm và truy xuất nguồn gốc. Những hạng mục như ứng dụng, website riêng, hệ thống quản trị tổng thể hay các công nghệ có chi phí lớn chưa phải ưu tiên khi nguồn lực chỉ ở mức 50 - 100 triệu đồng trong năm đầu…
Đi tìm lời giải cho bài toán này, bà Cao Xuân Thu Vân, Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam cho rằng, chuyển đổi số trong HTX không nên bắt đầu bằng câu hỏi “Mua công nghệ gì?” mà phải bắt đầu từ việc “HTX đang cần giải quyết vấn đề gì?”, bởi công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giải quyết được những vấn đề thực tế.
Theo Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam, chuyển đổi số không đơn thuần là đưa các quy trình hiện có lên môi trường điện tử, càng không phải là mua thêm một phần mềm. Chuyển đổi số là tổ chức lại toàn bộ hoạt động quản trị, sản xuất, kinh doanh dựa trên dữ liệu để tạo ra hiệu quả và mở rộng thị trường. Điều này nghĩa là chúng ta phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, tuyệt đối không dựa dẫm vì không ai có thể làm thay mình.
“Lý do nhiều đơn vị muốn kết nối với hệ thống HTX là bởi vì khi tập hợp được 35.000 HTX, chúng ta đang sở hữu một kho dữ liệu khổng lồ. Nếu kết nối được dữ liệu của 7 triệu thành viên nữa, lượng thông tin sẽ cực kỳ lớn.
Tuy nhiên, bài toán đặt ra là chúng ta quản trị khối dữ liệu đó thế nào để tất cả cùng có lợi. Trong thực tế, không ai tự nhiên làm không cho mình. Nếu HTX không nắm vững, không có năng lực tự thân từ nội lực thì cuộc chuyển đổi số đó khó có thể thành công. HTX chuyển đổi số không phải để "có công nghệ", mà là để sản xuất tốt hơn và bán hàng hiệu quả hơn” Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam Cao Xuân Thu Vân góp ý.