Nội dung của công văn này ghi rõ: để thực hiện đúng quy định của BLHS năm 1999 với “Các tội phạm về ma túy”, Bộ Công an-VKSND TC- TAND TC- Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007 ngày 24/12/2007, hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17 nêu trên, thì “Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất”.
Tuy nhiên, theo TAND TC, qua công tác giám đốc việc xét xử Tòa phát hiện nhiều vụ án HĐXX chỉ căn cứ vào kết quả giám định về trọng lượng của các chất nghi là ma túy trong các chất thu được đó, như vậy là áp dụng không đúng quy định của BLHS và hướng dẫn của liên ngành, dẫn đến hậu quả nhiều bị cáo có thể bị xử oan, sai. Để khắc phục tình trạng này, Công văn 234 yêu cầu TAND các cấp quán triệt và triển khai thực hiện đúng hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17 nêu trên.
Thực hiện công văn này, trong tháng 10, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TP Hồ Chí Minh đã tuyên hủy 2 bản án ma túy mà trước đó TAND TP Hồ Chí Minh đã đưa ra xét xử với lý do chưa xác định được hàm lượng ma túy. Cụ thể, đó là vụ án “mua bán trái phép chất ma túy” do bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh (44 tuổi, ngụ Bình Phước) cùng 2 đồng phạm thực hiện và vụ Donna Buenagua Mazon (39 tuổi, quốc tịch
Cả hai vụ án, số lượng ma túy các bị cáo tham gia mua bán và vận chuyển tổng cộng gần 3 kg heroin và cocain. Với hành vi đặc biệt nghiêm trọng như trên, trước đó xử sơ thẩm, TAND TP Hồ Chí Minh đã tuyên hai bị cáo đầu vụ trong vụ án này mức án cao nhất (tử hình). Trong suốt quá trình điều tra và tại hai phiên tòa xét xử, các bị cáo đều nhận tội và chỉ kháng cáo để xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, khi xử phúc thẩm, TAND Tối cao đã vận dụng Công văn 234 tuyên hủy cả hai bản án để cơ quan tố tụng giám định lại hàm lượng ma túy.
Được biết, không chỉ bị hủy án, tại TP Hồ Chí Minh hàng trăm vụ án ma túy đang ách tắc không thể xử được vì “vướng” Công văn 234 của TAND TC.
Tại hội nghị chuyên đề về ma túy do VKSND TP.HCM tổ chức mới đây có sự tham dự của đại diện ba cơ quan Tòa án, VKS và Công an, đại diện lãnh đạo VKSND TP.HCM cho biết: trong thực tiễn xử lý các tội phạm về ma túy, CQĐT khi bắt giữ thu vật chứng là ma túy hoặc tiền chất ma túy đều có quyết định trưng cầu giám định chất ma túy.
Sau đó, cơ quan có chức năng giám định có kết luận giám định, xác định chủng loại và trọng lượng ma túy, tiền chất ma túy đã có đủ cơ sở để làm căn cứ xử lý vụ án. Việc quy định cần xác định hàm lượng chất ma túy, theo VKS chỉ cần thiết trong các trường hợp như đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch (như dung dịch thuốc phiện, dung dịch heroin dùng để tiêm, chích) hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng… Còn quy định “trong mọi trường hợp…” đối với tiền chất ma túy cần phải xác định hàm lượng là không cần thiết. Bởi lẽ Thông tư 17 quy định “Tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy” là các hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy được quy định trong các danh mục tiền chất do Chính phủ ban hành. Do đó, khi Cơ quan giám định có kết luận xác định đúng loại tiền chất nằm trong danh mục thì đã có đủ cơ sở để xử lý. Vì vậy, Công văn 234 sẽ gây khó khăn cho công tác giám định vì việc xác định hàm lượng không đơn giản, tốn nhiều thời gian, công sức, kéo dài thời gian, ảnh hưởng đến cả quá trình giải quyết vụ án.
Đồng quan điểm với VKS, đại diện Công an TP.HCM cũng cho rằng: Công văn số 234 có nội dung khác quy định của BLHS hiện hành và Thông tư liên tịch số 17 ngày 24/12-2007 của Bộ Công an - VKSND Tối cao - TAND Tối cao - Bộ Tư pháp. Cụ thể, tại các điều 193, 194, 195 BLHS hiện hành quy định khi xác định các chất ma túy là heroin hay chế phẩm heroin thì dựa vào trọng lượng chứ không cần xác định hàm lượng để định khung hình phạt đối với người phạm tội. Tương tự, Thông tư liên tịch 17 ghi rõ: chỉ đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch, sái thuốc phiện, thuốc hướng thần, tiền chất ma túy dùng sản xuất ma túy thì mới cần xác định hàm lượng. Tuy nhiên, Công văn 234 lại hướng dẫn: “Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất”. Ông Huỳnh Anh Kiệt (Phó Chánh tòa hình sự TAND TP.Hồ Chí Minh) cho biết, khi nhận được Công văn 234/2014 của TAND Tối cao, TAND TP.HCM đã gửi đi cho các cơ quan tố tụng khác để tiện phối hợp. Tuy nhiên, cả Công an TP.HCM lẫn VKSND TP.HCM đều không đồng thuận.
Thừa nhận Công văn 234 của TAND Tối cao đã gây khó khăn trong việc giải quyết án ma túy và xung đột với BLHS và Thông tư liên tịch 17, thẩm phán Huỳnh Anh Kiệt (Phó Chánh tòa hình sự TAND TP Hồ Chí Minh) cho biết, lãnh đạo TAND TP Hồ Chí Minh sẵn sàng kiến nghị về vướng mắc trên lên TAND Tối cao để có hướng giải quyết phù hợp. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi, hiện tại tòa vẫn phải thực hiện theo đúng nội dung của Công văn 234.