Tại Điều 3 của Nghị định quy định mức lương tối thiểu theo tháng và mức lương tối thiểu theo giờ cụ thể như sau:
Vùng I, lương tối thiểu theo tháng là 5.700.000 đồng/tháng và 27.400 đồng/giờ. Vùng II là 5.080.000 đồng/tháng, 24.400 đồng/giờ. Vùng III là 4.450.000 đồng/tháng và 21.400 đồng/giờ. Vùng IV là 4.040.000 đồng/tháng và 19.400 đồng/giờ.
Địa bàn áp dụng được xác định dựa trên nơi hoạt động của người sử dụng lao động. Trường hợp người sử dụng lao động có các chi nhánh, đơn vị hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì đơn vị, chi nhánh ở địa bàn nào sẽ áp dụng mức lương tối thiểu quy định cho địa bàn đó.
Đặc biệt, các cơ sở hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do hoặc khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nằm trên nhiều địa bàn khác nhau sẽ áp dụng theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất.
Nghị định 399/2026/NĐ-CP quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm rà soát lại các hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và các quy chế nội bộ để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. Người sử dụng lao động không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác theo quy định pháp luật.
Đồng thời, các thỏa thuận hoặc cam kết trước đó có lợi hơn cho người lao động, chẳng hạn như mức lương cho công việc đòi hỏi qua học tập, đào tạo nghề cao hơn ít nhất 7%, hay công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn từ 5% đến 7% so với mức lương tối thiểu vẫn tiếp tục được thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.