Vá lại cuộc đời
Nhà ông Phạm Văn Bắc ở ngay mặt đường, gần bến xe TP. Thái Bình. Ngôi nhà không rộng rãi nhưng ấm cúng, luôn giàu có tiếng cười và có nhiều kỷ vật của một thời chưa bao giờ cũ mà vợ chồng ông hết lòng gìn giữ. Mấy chục năm rồi bà Lạc vẫn giữ được tinh thần lạc quan như thế, nụ cười hồn hậu đôi khi vồn vã. Ngay cả ông Bắc, chồng ba,â cũng không biết bà đã lấy nghị lực ở đâu để sống kiên cường đến thế, làm được nhiều việc đến thế, thậm chí còn phải “phục dịch” một người chồng đã bị chiến tranh cướp đi cả hai con mắt, một bên chân. Cách mà ông bà chăm sóc nhau, sống bên nhau khiến nhiều người phải học tập. Và với tôi sự hy sinh, lòng nhân hậu của bà Lạc ắt hẳn phải như biển rộng mới giúp bà đủ quyết tâm nuôi một gia đình như thế.
Ông Phạm Văn Bắc quê ở An Ninh (Quỳnh Phụ, Thái Bình), năm 1972, Bắc nhập ngũ. Sau những ngày tháng luyện tập, hành quân vượt Trường Sơn trong gian khổ, chàng đã trở thành lính của “Công trường 6”. Ba năm ròng cùng đồng đội chiến đấu trên chiến trường Thừa Thiên - Huế.
Ngày 1/1/1975, trong một đợt đưa chỉ huy trung đoàn đi kiểm tra trận địa, Bắc vướng mìn của địch, mất chân phải, thủng luôn hai mắt, ba mảnh găm sâu vào đầu gối chân trái. Ông Bắc nhớ lại lần bị thương kinh hoàng đó: “Bị thương, đồng đội đưa tôi vào hầm sâu, ngay trong đêm đó, dưới ánh đèn pin, một cuộc phẫu thuật tổng thể chân, miệng, mắt cho tôi đã kéo dài trong 5 tiếng đồng hồ. Sau ca phẫu thuật, tôi ngất lịm, nhiều người bảo không thể nào sống nổi. Có đồng đội đã đưa ra ý kiến về chuyện hậu sự cho tôi, ấy vậy mà tôi vẫn chưa bị tử thần bắt đi. Một điều kỳ diệu xảy ra, gần nửa ngày sau, tôi đã thở trở lại, tim đập khỏe hơn. Tôi đã sống nhờ vào sự tận tình cứu chữa và chăm sóc của các bác sĩ và đồng đội”.
Đầu năm 1975, Phạm Văn Bắc trở ra miền Bắc, vào điều trị tại Viện 108, 109. Đúng ngày 30/4/1975, ông về một trung tâm thương binh nặng ở Hà Bắc điều trị. Tháng 7/1977, Phạm Văn Bắc về Trại Thương binh nặng Thái Bình với thương tật đặc biệt. “Đến đây, ai cũng tưởng tôi sẽ cam chịu sống âm thầm trong bóng tối như vậy. Thế rồi, vì thương, người thân đã giới thiệu cho tôi một người phụ nữ để lấy làm vợ. Tất nhiên, nghe nói cô ấy không đẹp, quá lứa nhỡ thì. Chúng tôi tình nguyện về sống để nương tựa, giúp đỡ nhau. Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, những tưởng tôi đã có được chỗ dựa, như con thuyền tìm được bến đỗ bình yên, nào ngờ cuộc sống nảy sinh mâu thuẫn, người vợ đó lại bỏ đi”, ông Bắc bùi ngùi nhớ lại.
Lúc đó hạnh phúc, tương lai và niềm khao khát có con đã đóng lại tựa như đôi mắt của Bắc không bao giờ mở được. Nỗi đau đớn, tuyệt vọng đã quật người cựu binh bằng những trận ốm thập tử nhất sinh. Gia đình, bè bạn động viên, nói nhiều về những số phận còn hẩm hiu, khổ hạnh gấp vạn lần làm Phạm Văn Bắc nghe ra, nén lại nỗi đau tiếp tục tìm đường sống.
Thế rồi, vào buổi chiều hè năm 1978, Phạm Văn Bắc đã gặp Phạm Thị Lạc (vợ liệt sĩ) trong một sự tình cờ đẹp đẽ. Hôm đó, Lạc về đơn vị cũ, đến đoạn đường xã Đông La (huyện Đông Hưng) thì thấy một đám đông túm tụm giữa đường. Ở đó, hai thanh niên và một cô gái trẻ va chạm xe đạp. Hai thanh niên này cậy thế bắt bí cô gái. Cùng lúc đó có hai người đàn ông đi đến, một người đeo kính đen, cụt một chân đã đứng ra can thiệp. Cô gái kia được giải thoát. Hành động của người đàn ông đeo kính đen đã gây cho Lạc một sự xúc động đến nghẹn ngào. Qua một hồi chuyện trò, người đàn ông cụt chân, đeo kính đen ngồi sau xe giới thiệu mình đang ở Trại Thương binh nặng Thái Bình, mời Lạc nếu có dịp xuống chơi. Người đàn ông đó chính là thương binh Phạm Văn Bắc.
Sau cuộc gặp gỡ tình cờ, bà Lạc đã chọn một ngày thăm ông Bắc.
Bà Lạc cảm động trước cuộc sống bất hạnh, cô đơn của ông Bắc, đồng thời cũng kể về thân phận của mình. Chồng bà Lạc là liệt sĩ Khiếu Nhung Y, hy sinh năm 1968 nhưng phải đến năm 1975 bà mới biết tin. Và đau đớn thiệt thòi hơn, bà Lạc chỉ được làm vợ có vỏn vẹn 3 ngày. Họ tâm sự, chia sẻ và đồng cảm với nhau. Sau vài lần qua lại Phạm Thị Lạc đã bén duyên người thương binh nặng và quyết tâm xây dựng hạnh phúc với chàng, vá lại hai mảnh đời trống tênh vì buồn bã, hẩm hiu.
Vừa là vợ, vừa là “chồng”
Sau 5 tháng yêu đương, tìm hiểu bà Lạc mới dũng cảm báo cho gia đình, cơ quan bạn bè để chọn ngày tổ chức đám cưới. Nhưng chuyện đó gặp phải sự phản đối gay gắt của gia đình bà Lạc, bởi «nó chăm bản thân còn chả được, sao có thể lấy làm chồng». Nhưng với quyết tâm và tình yêu son sắt, gia đình phải chiều theo ý con gái. Phạm Thị Lạc trở thành người phụ nữ đầu tiên xung phong lấy chồng là thương binh ở Trại Thương binh nặng Quang Trung. Trại đã tổ chức đám cưới đầu tiên này một cách trang trọng, như một sự kiện lớn. Đích thân Giám đốc Trại làm trưởng ban tổ chức. Sau “cú khởi động” ngoạn mục này, nhiều phụ nữ khác đã tự nguyện làm vợ những thương binh nặng ở đây.
Sau khi cưới nhau, gia đình nhỏ phải đối mặt với biết bao khó khăn. Bà Lạc lại lần lượt sinh hạ 4 đứa con, 2 gái, 2 trai. Khó khăn chồng lên khó khăn nhưng người mẹ cần mẫn, người vợ chăm chỉ này đã vực được gia đình đi lên. Ông Bắc kể: “Cả 4 lần sinh con, bà ấy không có lấy một ngày kiêng cữ. Bế con, cho con ăn, tắm rửa, giặt giũ… tất tật đều đến tay. Lại còn phải chăm sóc tôi, vừa mù, vừa mất chân nên việc sinh hoạt cá nhân phải nhờ cậy vào vợ. Tôi chẳng giúp được gì, ấy thế mà bà ấy chẳng hề cằn nhằn nửa lời”.
Thương vợ nhưng không có cách gì để giúp, đêm đêm đôi tay gầy guộc của ông ôm vợ vào lòng, nước mắt trào ra. Năm 1981, ông Bắc xin trại cho về địa phương, bà Lạc cũng xin cơ quan về nghỉ mất sức. Hai vợ chồng lại đau đầu tìm kế sinh nhai. Sau cùng họ tìm ra cách: vợ bán hàng ăn, chồng rửa xe máy, có sự giúp sức của một số bộ đội xuất ngũ. Họ làm một mái nhà tranh bên cạnh hồ nước mênh mông để làm ăn. Hàng ngày cứ 4 giờ sáng, bà Lạc đặt con ngủ, dậy nhóm bếp, chuẩn bị cho buổi bán hàng, chắt chiu từng đồng bạc lẻ nuôi gia đình. Những lúc bận rộn nhất, ông Bắc chỉ giúp bà thái hành, bóc tỏi và trông con.
Nói về người vợ tuyệt vời của mình, ông Bắc cũng dùng hai chữ “tuyệt vời”, bởi bà đã mang hạnh phúc, ánh sáng đến cho đời ông, là ân nhân của ông. Ông tự hào: “Vợ tôi như một anh chồng đảm đang ấy, việc gì cũng đến tay. Lấy một người mù hai mắt, cụt một chân như tôi, hẳn là ngày xưa bà ấy phải yêu tôi lắm. Và cho đến những năm tháng vất vả sau này, tình yêu vẫn trọn vẹn. Bà ấy sinh con cho tôi, nuôi nấng chúng, chịu đựng gian khổ mà lúc nào miệng cũng tươi cười. Rồi lại còn là cây gậy cho tôi chống nữa. Thế mới lạ chứ!...”.
Khi hỏi về những ngày tháng vất vả đó, bà Lạc chỉ cười, còn ông Bắc thì nhớ như in. Những năm khó khăn, không có xe lăn, muốn đi đâu bà Lạc phải chở chồng bằng xe đạp, khi có xe máy thì dùng xe máy, chỗ lội không qua được thì bà cõng chồng qua. Con nhỏ vất vả đằng con nhỏ, con lớn khổ đằng con lớn, cả 4 đứa con đi thi đại học, bà Lạc phải đưa đi. Hàng chục năm trời đánh vật với cuộc sống để nuôi các con ăn học và gia đình. Bây giờ, nhà cửa đã khá, hai cô con gái của ông bà là giáo viên, con trai thứ ba vừa tốt nghiệp, cậu út đang học đại học nhưng được các anh chị chu cấp.
Tình yêu không màu mè
Lợi ích của tiếng cười thì ai cũng biết, nhưng người tận dụng được nó, để lúc nào gia đình cũng vui vẻ, thuận hòa, êm ấm thì ông Bắc, bà Lạc là hai trong những người giỏi nhất. Rất ít người biết người vợ hơn chồng những nửa giáp. Sự chênh lệch tuổi tác chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc sống, mà thậm chí còn tạo thêm tiếng cười. Bởi nhiều lúc ông Bắc thường trêu đùa vợ: “Ông em ở với bà chị, bị bà chị bắt nạt suốt đêm ngày…”, rồi cả hai lại cười phớ lớ.
Tôi hỏi bà Lạc: “Khi chấp nhận lấy một ông chồng mất hai mắt, mất cả bên chân, bà không sợ vất vả sao?”. Bà Lạc cười hiền lành: “Tôi chả sợ gì, chỉ vì yêu và thương thôi. Lúc đó, ông ấy hỏi là tôi đồng ý luôn cho chắc ăn. Như thế, ông ấy hoàn toàn là của tôi, chẳng lo… Thú thực, tôi cũng chỉ cần tình yêu, một tình yêu không cần màu mè, không toan tính, thế là hạnh phúc mỹ mãn lắm rồi.”
Hiện nay, ông Bắc tham gia trong Ban chấp hành Hội Người mù TP. Thái Bình, nhiệt tình cùng các cấp hội tổ chức cho người khiếm thị sản xuất tăm tre, chổi đót, tiêu thụ sản phẩm. Và mỗi khi phải đi đâu, người vợ tần tảo, khỏe mạnh này lại dùng xe máy, chở chồng đi đến bất cứ chỗ nào ông yêu cầu trong niềm vui sướng dạt dào. Đúng là một tình yêu đẹp, đẹp đến mức tưởng như không có thật