Tuy nhiên sự khác biệt ấy không nhiều, bởi mỗi thể loại về bản chất nó phải đảm bảo cho được cái đối tượng mà nó cần và đang miêu tả. Còn nói theo tính chất của báo chí và thông tấn, thì mỗi thể loại trên đây cái đối tượng nó nhằm đến là phải chính xác. Điều này hết sức đúng.
Cũng có thể ví các thể loại đã viết ra ở trên đây, nó như vũ khí tác chiến khi một đội quân nào đó lâm trận. Mỗi một loại súng đều dành để dùng vào việc sử dụng của đội quân ấy, từng người lính khi phía trước kẻ đối địch đã xuất hiện một thứ quân dụng nào. Tỉ như phía trước địch đã dùng đến xe tăng, thì hẳn quân lính của bên này không thể dùng súng tiểu liên AK được nữa, mà phải dùng đến loại súng có quả đạn như cái hoa chuối là B40, B41.
Trong văn chương và trong báo chí, thì đội ngũ hành động của nó hoàn toàn khác với trong quân sự (trong quân sự khi đã được chỉ huy phân công thì anh lính nào cũng vậy, chỉ sử dụng thành thạo một thứ vũ khí). Còn trong văn chương và báo chí thì không khi nào có chuyện đó, mà mỗi phóng viên báo chí thông tấn và phóng viên là những cây bút viết văn, sáng tác văn học, đều phải biết và thành thạo nữa khi cầm bút viết về các thể loại đã được liệt kê ra ở trên đây.
Vì sao vậy. Vì một lẽ hiển nhiên, sức toả của một cây bút văn xuôi là rất rộng, sự có mặt ở nhiều nơi, gặp gỡ với rất nhiều loại người, những người đang làm các loại công việc khác nhau, trong vô vàn các hoàn cảnh và trạng huống khác nhau, và nữa tại rất nhiều nơi chốn khác nhau.
Thế nên, cây bút văn xuôi đó, rồi nhà văn đó hành xử đầu tiên và trước hết là đã vừa quan sát được, vừa nhìn thấy được. Sự nhìn thấy này dứt khoát là nhìn thấy cái chân dung của đối tượng nào đó, mà đã khiến đến sự lưu ý của cây bút này, nhà văn này, trước hết đó là chân dung vẻ mặt, nói năng, sau đó là hành xử của đối tượng đó, người đó.
Sau nữa, có một điều quan trọng hơn hay là định vị rằng cực kỳ quan trọng, thì cũng không có gì quá đáng, đó là cây bút đó, nhà văn đó bằng đôi mắt của nghề, đôi mắt tinh tường, đã trải đời, cuối cùng là đôi mắt văn mà nhìn thấy được cái không dễ nhìn thấy của đối tượng ấy, con người ấy. Và cái không dễ nhìn thấy của đối tượng ấy, con người ấy là tâm trạng, là cái lay động bên trong thuộc linh của họ. Nói một cách khác là tâm thế, là cái phần sống động nhất của thế giới nội tâm của đối tượng ấy, con người ấy đang hoạt động khi toàn bộ cái thuộc thể của họ hành động, làm lụng.
Vì sao phải nhìn thấy cho được cái điều đã nói ra ở trên đây, vì đời sống và sự hành xử nảy sinh từ trong nội tâm của mỗi con người là cốt chủ của một tính cách, một phong thái, một cá tính mà chỉ người A đó có, còn người B thì không. Cũng vì sao mà các cây bút văn chương và các nhà văn thực thụ phải có một cách như nhiên tự nhiên, là bởi vì từ đây một nhân vật trong văn chương, văn xuôi được xác lập.
Sau một qui trình được thực hiện trong quá trình quan sát, quá trình thâm nhập vào đời sống, nói cho đầy đủ là sống với nơi người đó có mặt, thì ngay lập tức cây bút văn xuôi đó, nhà văn đó phải rất mẫn cảm mà tự thấy được ngay ra là mình cần dùng đến văn trong thể loại nào? Bút ký chăng? Tuỳ bút chăng? Sau mấy phút suy tính thì người viết biết đó thấy không thể; mà có lẽ phải dùng đến thể loại văn ghi chép, hoặc là văn ký sự. Nhưng có lẽ văn ghi chép thì tốt hơn vì điều quan trọng nhất của thể loại này là nó cần đến một khối quan trắc tổng hòa và tổng thể.
Tổng hòa là nhìn thấy được và ghi lại được sự hiện ra một cách cô đọng nhất cái đáng lưu ý từ con người đó, đối tượng đó. Còn tổng thể là khi đã ghi nhớ và viết được ra giấy những điều rất cần thiết trên đây, thì đối tượng ấy, con người ấy, về cá tính, về phong độ đã qui tụ lại thành một điều gì đấy về con nguời, con người có đạo đức, con nguời đôn hậu, trung tín, hay con người ấy cứ có một cái gì đó như sự dễ phản bội; dễ bất nhất, dễ đổi thay.
Các tính cách tốt và xấu trên đây, không hiểu vì sao mà bằng nhiều cách bày tỏ của một con người, một đối tượng mà cây bút văn chương, nhà văn đó gặp là cần, rất cần được quan sát một cách công phu. Nên người ta vẫn nói sức quan sát, khả năng quan sát, ai mà có đầy đủ, ai mà sử dụng tốt, sẽ rất thuận cho việc miêu tả. Và, văn thể loại ghi chép, ký sự cả bút ký nữa, nó là ba thể loại phục vụ đắc lực cho công cuộc sáng tác văn chương là vậy.
Điều cuối cùng, một điều vô cùng và hết sức là trọng đại: Văn xuôi phải đi từ cái thực, từ cái sự thật, một sự có thật hiển hiện. Nói một cách khác là cây bút văn xuôi và nhà văn phải từ bên trong đời sống, ngụp lặn với đời sống, sống hết mình với đời sống. Sống ấy a? Có sống thật đã đành. Nhưng cũng lại có sống giả nữa đấy nhé. Vậy sống giả là thế nào đây? Nhưng sống giả hoàn toàn khác với giả sống đấy.
Vì giả sống nằm trong hệ pháp thuật. Ví dụ một nhà tình báo, đồng chí ấy đang trong một sự nghiệp trọng đại được giao phó, thì đồng chí ấy phải sống ở ngay trong lòng địch, vậy thì phải giả sống. Và cũng có một nghĩa nữa trong cái giả sống này là đồng chí ấy vẫn cứ phải sống thật sự trong cái giả sống này. Đến đây thì người viết bài này thấy cần nói thêm một chút nữa. Vâng, đó là một bi kịch lớn sẽ cực hay cho nhà văn nào viết về chủ đề tình báo.
Và cây bút văn xuôi và nhà văn thì không thể nào để cho dối trá len lỏi được vào cái thế giới sống của mình, bởi chỉ từ những gì rất thật, sự thật, sự trung thực thì mới có tác phẩm, mới tạo ra được cái văn của tiểu thuyết. Nhân đây, người viết bài này cũng xin được nói ngay, có văn của truyện ngắn, có văn của truyện vừa, có văn của tiểu thuyết, ai mà không làm và không có mấy đặc tính trên đây, thì tốt nhất là đừng viết nữa. Cố mà viết chỉ tự làm khổ mình, rồi khổ người đọc mà thôi.
Và từ cái thật lớn lao mà cuộc sống đã hàm chứa ấy, chính là cái nền cực kỳ vững vàng và không thể khác được của Tiểu thuyết sử thi.
Nhân đây, người viết bài này xin được nói ghé qua văn chương của Trung Hoa. Ở bên ấy, truyện ngắn người ta gọi là đoản thiên tiểu thuyết; truyện vừa, người ta gọi là trung thiên tiểu thuyết; truyện dài người ta gọi là trường thiên tiểu thuyết. Đây là một cách gọi chính xác.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã định nghĩa tiểu thuyết rất hay, ông nói: “Tiểu thuyết là cái sự bịa đặt dài dằng dặc và làm mê hồn người”. Đúng thế, nói cho nó có chút chữ nghĩa thì tiểu thuyết là từ tưởng tượng mà có. Nghĩa là trong vô vàn cái có thật, nhiều khi chỉ là vụn vặt, ấy mà rồi nhà văn, các cây bút văn xuôi, họ tưởng tượng mà thành. Điều quan trọng là ở đây các tiểu thuyết có từ sự tưởng tượng ấy bao nhiêu lâu nay quả đã hấp dẫn được người đọc.
Nhưng trong mấy chục năm nay, từ ngày có sự đổi thay lớn, rất lớn cái hiện thực của nước ta, dân ta đã ngày càng dữ dội, ngày càng biến động. Đời sống bao nhiêu đổi thay và kỳ vĩ ở rất nhiều năm tháng, đến nỗi rất nhiều, rất nhiều điều, rất nhiều công cuộc đã được đổi thay. Và những đổi thay đó mỗi ngày lại kỳ vĩ thêm lên, khiến cho sức tưởng tượng của nhiều bộ óc của các nhà văn trước những hiện thực ấy, đều chỉ mới kịp nhìn nhận được phần nào thôi, nói gì đến nhận thức được toàn bộ sự kiện. Trong khi các sự kiện luôn luôn xuất hiện, mà sự kiện nào cũng vậy, cái xuất hiện sau lại lạ hơn, lớn hơn cái xuất hiện trước đó.
Và trong hoàn cảnh kỳ diệu này, thể loại Tiểu thuyết sử thi khi ra đời. Và như vậy là Tiểu thuyết sử thi xuất hiện theo nhu cầu tối thượng của hiện thực. Trong nội dung của tiểu thuyết loại này có những nhu cầu gì, cần đến những hệ trọng nào? Cái nó cần đến nhất là phải thực phải rất thật.
Đó là một công cuộc miêu tả đầy đủ sinh động cái thật, sự thật đã hiển hiện trong một sự kiện đã diễn ra từ hiện thực. Có nhiều tiểu thuyết sử thi rồi, nhất là ở nước ngoài. Tam quốc chí là một ví dụ. Sự kiện tam quốc tranh giành nhau làm bá chủ là vô vàn những cuộc trận chiến khốc liệt; tiến hành các chiến cuộc đó, đều là từ đầu óc của những nhân vật kỳ tài. Kỳ tài mọi vẻ. Và điều kỳ lạ nữa là các chiến trận của những anh hùng hảo hán đó đã xảy ra cách những trang chữ hiện ra trong tiểu thuyết sử thi Tam quốc là hơn 1.000 năm trước. La Quán Trung là tác giả của tiểu thuyết sử thi này đã quả cảm bắt tay vào thu lượm tài liệu, dựng lại các nhân vật trong tam quốc bằng cách miêu tả hoàn toàn từ bút pháp tả thực.
Tôi đã đến Thành đô và đến kinh đô của nước Thục xưa. Tôi đã đứng cạnh mộ Lưu Bị, đã xem rất kỹ bảo tàng về hoàng triều vua Thục mà Lưu Bị cầm đầu, rồi Quan công, rồi Trương Phi, rồi Khổng Minh (Gia Cát Lượng). Giới sử học họ dựng tượng các nhân vật này đều bằng người thật, rồi các tư liệu lưu trữ, đều rất xác đáng. Có thể nói riêng về Tam quốc chí là một kiểu mẫu cho Tiểu thuyết sử thi.
Chúng ta, mấy chục năm qua trải hai cuộc kháng chiến. Kháng chiến chống Pháp, có kỳ tích là trận Điện Biên Phủ. Còn kháng chiến chống Mỹ là rất nhiều chiến dịch với những chiến tích lẫy lừng như một loạt chiến dịch hiển hách diễn ra ở các tỉnh Tây Nguyên và tỉnh Buôn Ma Thuột. Tiếc nhất là chiến dịch Điện Biên Phủ, tác phẩm văn học của chúng ta không có mặt ở đây. Nhà văn Nguyễn Đình Thi có nói nhiều lần là ông sẽ viết về Điện Biên vì ông đã trực tiếp tham gia và có đủ tài liệu rồi. Nhưng mà rồi, ông cũng không làm được.
Điều quan trọng bậc nhất của Tiểu thuyết sử thi là nó phải từ những cái rất thật của hiện thực của cuộc chiến đấu, rồi cùng với sức tưởng tượng thật tốt, sự miêu tả thật là sinh động của nhà văn, hai yếu tố cái thật làm nền tảng hoà trong cái tưởng tượng trong việc miêu tả khi quan sát của nhà văn mà làm nên những tác phẩm có giá trị cao về những công cuộc do quân và dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta mà nên.
Hình dung cho đầy đủ một Tiểu thuyết sử thi thì đã có rồi. Các nhà văn của chúng ta phần chủ yếu là nhiệt huyết thì vẫn còn đó, sự khao khát để có tác phẩm vẫn nguyên vẹn, chỉ có điều cách thức cho một tổ chức để các tác phẩm ấy hiện hữu, có lẽ đó là điều cần lưu tâm