Thơ Thiền Lý Trần: Một đặc phẩm của thơ Việt

Trong lịch sử dân tộc, có thể khẳng định rằng việc tư tưởng Thiền bén rễ trên cơ tầng văn hóa Việt, rồi phát triển đến đỉnh cao vào thời Lý – Trần (nhất là với sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử) là một thành tựu mang tính đột phá trên nhiều phương diện.

Xin được nhấn mạnh một điểm: mô hình nhân cách triết gia, vốn rất hiếm hoi ở Việt Nam trong suốt trường kỳ lịch sử, nếu có, thì nó được kết tinh đậm hơn cả trong các Thiền sư Lý – Trần. Mô hình nhân cách này thể hiện ra không chỉ bằng trước tác lý thuyết, mà còn bằng chính hành trạng cuộc đời của họ. Điều đặc biệt nữa cần phải nói ở đây là các Thiền sư Lý – Trần, không phải tất cả, nhưng một bộ phận trong số họ cũng chính là những thi sỹ, và là những thi sỹ đích thực.

Như mọi thi sỹ, họ làm thơ để bộc lộ con người cảm xúc – tư tưởng. Nhưng đây là loại cảm xúc – tư tưởng vừa đời vừa đạo, vừa là những cảm xúc của con người cá thể trước thế giới, vừa là những trải nghiệm của quá trình tu đạo và sự giác ngộ chân lý. Rất khó tách bạch hai phương diện này ở những tác phẩm thơ Thiền Lý – Trần xuất sắc nhất, và đó chính là yếu tố khiến thơ Thiền Lý – Trần nói chung trở thành một đặc phẩm của thơ Việt.

Cuốn Thơ Thiền Lý Trần do Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP .HCM biên soạn (NXB Văn Nghệ TP .HCM, 1998) đã cung cấp tương đối đầy đủ văn bản tác phẩm thơ của các Thiền sư thời Lý – Trần. Tuy nhiên nói tất cả các tác phẩm này đều là thơ thì e rằng chưa thật chính xác. Có nhiều bài chỉ là bài kệ, bài minh, tức là những câu nói ngắn gọn, cô đúc mà tác giả dùng để trình bày hoặc chỉ dẫn về một nội dung Thiền, một quan niệm Thiền, một tư tưởng Thiền. Những bài mang phẩm chất thơ thực sự không nhiều. Không nhiều, không phải là không có. Ngay từ thời Lý, với Thiền sư Không Lộ (? – 1119), thơ ca Việt Nam đã có một thi phẩm Thiền tuyệt hay, bài Ngư nhàn: “Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên/ Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên/ Ngư ông thụy trước vô nhân hoán/ Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền”. (Nam Trân dịch: Vạn dặm sông xanh, trời vạn dặm/ Từng miền dâu ruối, khói quanh miền/ Ông chài ngon giấc không ai gọi/ Tỉnh dậy sau trưa, tuyết ngập thuyền. Bản dịch theo thể lục bát của Kiều Thu Hoạch cũng rất hay: Trời xanh nước biếc muôn trùng/ Một thôn sương khói, một vùng dâu đay/ Ông chài ngủ tít ai lay/ Quá trưa tỉnh dậy, tuyết bay đầy thuyền).

Nói về cảnh, thì cảnh tuyệt đẹp. Giống như một bức tranh vậy: viễn cảnh là trời mây mênh mông, sông xanh như tiếp với trời, khói đâu đó bảng lảng tựa một nét bút vờn mơ màng; cận cảnh là con thuyền với ông chài đang say ngủ, tuyết rơi trắng xóa trên mạn thuyền. Bức tranh gần như tĩnh hoàn toàn, duy nhất có một chuyển động: hành vi “tỉnh lai” của ông chài. Nhưng hành vi này có thể chỉ là một cái mở mắt, và là cái mở mắt không kèm theo bất cứ một sự ngạc nhiên nào, cho dẫu tuyết đã rơi đầy thuyền không biết từ bao giờ? Vị thiền của bài thơ nằm ở chính sự không ngạc nhiên này, chính sự bình thản này. Giữa ông chài với bối cảnh thiên nhiên mà ông đang tồn tại, đó là một sự hòa điệu tự nhiên, trọn vẹn giữa con người và ngoại vật. Ta – Vật đều quên, tất cả chỉ là một, hồn nhiên tự tại, không giới hạn.

Nếu thời Lý là giai đoạn khởi phát của thơ Thiền Lý – Trần, thì tất nhiên, giai đoạn cực phát của nó là thời Trần. Một thời đại kỳ lạ. Thời đại in đậm bóng dáng của những con người tự tin, hào hùng, phóng khoáng. Thời đại của những vị hoàng đế tích hợp trong con người mình rất nhiều mô hình nhân cách: là hoàng đế, là anh hùng dân tộc, là triết gia, là Thiền sư, là thi sỹ. Đạt tới độ điển hình cho kiểu con người như vậy, không ai khác, chính là Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 – 1308), người đã lãnh đạo toàn dân hai lần kháng Nguyên thắng lợi (1285 và 1288), người đã sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và lưu danh trong Phật sử Việt Nam với pháp hiệu Trúc Lâm Đại đầu đà.

Trong các trước tác của Trần Nhân Tông, về thơ, hiện chỉ còn tìm thấy 31 bài, trong đó có những bài thơ Thiền vào loại xuất sắc. Ví dụ, bài tuyệt thi có tựa Xuân cảnh: “Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì/ Họa đường thềm ảnh mộ vân phi/ Khách lai bất vấn nhân gian sự/ Cộng ỷ lan can khán thúy vi” (Huệ Chi dịch: Chim nhẩn nha kêu liễu trổ dày/ Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay/ Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế/ Cùng tựa lan can ngắm núi mây). Hai câu đầu của bài thơ trình ra kết quả tri giác cụ thể của con người trước thế giới: cái nghe (điểu ngữ trì - chim hót chậm rãi), và cái nhìn (mộ vân phi – mây chiều lướt bay). Con người ở đây có thể là chính tác giả, song do sự tỉnh lược chủ ngữ trong câu, đó cũng có thể là “không ai cả”: thiên nhiên tự phô diễn vẻ đẹp của chính mình theo trục thời gian, một cách tự nhiên nhi nhiên. Trên dòng trôi chảy ấy, “khách” xuất hiện, một sự xuất hiện trong im lặng (bất vấn – không hỏi) và hòa đồng (cộng ỷ – cùng dựa vào) tuyệt đối vào cảnh vật.

Cuối bài thơ, màu xanh biếc (thuý vi) của thiên nhiên mùa xuân bao trùm lên tất cả, cũng giống như cái Tâm Thiền an lạc đang tràn ngập hồn người. Chỉ miêu tả chứ không diễn giảng, bài thơ đã chừa chỗ cho người đọc cộng hưởng với khoảnh khắc vong ngã của tác giả trước vẻ đẹp mê hồn của thế giới. Có thể nói, Xuân cảnh là bài khá tiêu biểu cho phong cách thơ Thiền của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Nó không trực tiếp hoặc gián tiếp thuyết giảng về yếu chỉ Thiền, mà nó thiên về bày tỏ cảm xúc Thiền của con người đạt đạo trước cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống.

Cùng một phong cách như bài Xuân cảnh, là một bài thơ khác, có tựa Nguyệt:Bán song đăng ảnh mãn sàng thư/ Lộ trích thu đình dạ khí hư/ Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ/ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ” (Đào Phương Bình dịch: Đèn song chếch bóng, sách đầy giường/ Đêm vắng sân thu lác đác sương/ Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết/ Trên cành hoa quế nguyệt lồng gương). Không gian được phác lên trong bài thơ là một không gian bao la khoáng đạt, trong trẻo và lặng lẽ, đặc trưng cho cái “không” của Thiền. Thời gian ở đây là thời gian ban đêm, mùa thu – thời điểm thuận lợi cho sự bừng ngộ, khi cái tâm con người được lắng đọng và gạt bỏ đi lớp màn bụi bặm vô minh che phủ thường ngày. Trong tọa độ không – thời gian ấy, con người tỉnh giấc (thụy khởi) với dư vang của tiếng chày nện vải (châm thanh). Tiếng chày không phải là thực tại – nói đúng hơn thì nó đã từng là thực tại – nó đã bị không gian “nuốt chửng”, và vì thế mà không gian trống rỗng lại càng trở nên vô tận. Từ cái tĩnh mà cái động sinh ra: hình ảnh ánh trăng ghé đến bên bông hoa hé nở giữa đêm khuya vừa là hình ảnh thực, vừa như một ẩn dụ về sự bừng sáng của trí tuệ giữa khoảng không bao la của vũ trụ – tâm hồn.

Thiền sư Huyền Quang (1254 – 1334), vị tổ thứ ba của phái Thiền Trúc Lâm (tổ thứ hai là Thiền sư Pháp Loa) cũng là một thi sỹ nổi tiếng ở thời Trần. Xuất thân là một nhà Nho, thậm chí là một danh Nho, song ông đã sớm bén mùi Thiền để rồi từ bỏ tất cả áo mũ triều quan mà đi tu.

Nói về thơ của Huyền Quang (đáng tiếc là hiện nay chỉ còn lại 24 bài) các nhà bình thơ thời trước như Lê Quý Đôn hay Phan Huy Chú vẫn khen rằng: “ý tinh tế cao siêu”, “lời bay bướm phóng khoáng”. Từ đây có thể tạm suy luận: trong thơ Huyền Quang, con người thi sỹ và con người Thiền sư đều đã được thể hiện tới mức cao nhất. Hãy đọc thử một tác phẩm của ông, bài Địa lô tức sự (Trước bếp lò tức cảnh): “Oa dư cốt đốt tuyệt phần hương/ Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương/ Thủ bả xuy thương hòa thái thác/ Đồ giao nhân tiếu lão tăng mang” (Huệ Chi dịch: Củi tàn, thôi chẳng thắp thêm hương/ Miệng đáp gia đồng hỏi mấy chương/ Bận bịu cho ai cười chế lão/ Liền tay ống thổi với mo nang).

Bài thơ không tả, mà chỉ kể, và cái được kể là một câu chuyện xét ra cũng... chẳng có gì: ông sư già và chú nhỏ ngồi với nhau trước cái bếp lò, ông trả lời chú về mấy chương sách; củi trong bếp đã tàn, hương cũng đã dứt; một tay ông cầm ống thổi lửa, tay kia nhặt mảnh cây... Không có sự kiện quan trọng nào diễn ra, không một bài học nào được đúc rút. Chẳng có gì hết, may chăng, người ta chỉ có thể nói được về một không khí điền viên giản dị ấm cúng nào đó của người tu hành mà bài thơ đã phác ra mà thôi. Nhưng, hãy đọc thêm lần nữa, lần nữa, đọc và gạt ra khỏi đầu nỗi ám ảnh về cái “ý nghĩa” mà ta cần phải chắt ra cho được từ một văn bản ngôn từ, ta sẽ thấy: mọi hành động, trạng thái của con người và đồ vật trong bài thơ này đều diễn ra cùng một lúc, đều được tri giác và cảm nhận cùng một lúc. Thời gian dường như bị ngưng lại, bị chặn đứng. Và đây chính là cái mà ta có thể nói về vị Thiền của bài thơ: con người trong đó sống và hòa mình trọn vẹn với “giây phút này”, hồn nhiên, không vướng bận. Cuộc sống như vậy, nhìn từ quan điểm Thiền, là cuộc sống có ý nghĩa nhất.

Một tác giả khá đặc biệt cần phải nhắc tới ở đây, là Văn Huệ Vương Trần Quang Triều (1286 – 1325). Ông từng cầm quân đánh giặc, làm nên những võ công hiển hách, sau đó cáo quan về ở ẩn, lập ra thi xã Bích Động. Không đi tu, nhưng là một quý tộc sống trong thời đại mà tư tưởng Thiền được sùng thượng khắp trong triều ngoài nội, ông không thể không chịu ảnh hưởng. Thiền ngấm trong thơ ông cũng là vì thế. Sách Thơ Thiền Lý Trần có tuyển một bài của ông, bài Đề Gia Lâm tự: “Tâm khôi ra giác mộng/ Bộ lý đáo thiền đường/ Xuân vãn hoa dung bạc/ Lâm u thiền vận trường/ Vũ thu thiên nhất bích/ Trì tĩnh nguyệt phân lương/ Khách khứ tăng vô ngữ/ Tùng hoa mãn địa hương” (Huệ Chi và Hoàng Lê dịch: Nguội ngắt lòng danh lợi/ Am thiền rảo gót qua/ Xuân chày hoa mỏng mảnh/ Rừng thẳm ve ngân nga/ Mưa tạnh da trời biếc/ Ao trong ánh trăng ngà/ Khách về sư biếng nói/ Thông rụng nức mùi hoa”. Với bài thơ này, phần lược bình trong sách Thơ Thiền Lý Trần đã nói khá đầy đủ về cái hay của nó, xin được dẫn nguyên văn: “Thiên nhiên phản ánh tâm trạng, là hình chiếu của tâm trạng thanh đạm, bình lặng, trong trẻo. Người không nói, vì vạn vật bằng thứ siêu ngôn ngữ của mình đã nói rất nhiều. Con người lặng yên để nghe một sự hòa điệu sâu xa giữa ta và vật và mùi hương hoa thông thoang thoảng khắp mặt đất là một bản hợp xướng không lời”.

Trong khuôn khổ một bài báo, người viết không thể nói nhiều chứ chưa nói là nói hết, mà nói làm sao cho hết đây? – về thơ Thiền Lý – Trần. Miễn cưỡng, thì có thể vu khoát mà tiểu kết rằng đây là một trong những đỉnh cao của thơ ca Việt Nam từ trung đại đến hiện đại. Nó mở đường cho sự ra đời của những bài thơ hay, mang đậm ý vị Thiền trong thơ ca của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du sau này. Với người đọc hiện nay, thơ Thiền Lý Trần có thể nói là một thách thức. Vấn đề không chỉ là chuyện văn tự Hán xa lạ, khó hiểu, mà còn ở tính hàm súc, ý tại ngôn ngoại, và sự vượt thoát ra khỏi biên giới của suy luận và nhận thức lý trí thông thường của nó. Nhưng chấp nhận đối mặt với thách thức, chiếm lĩnh thách thức và rồi thủ đắc được một cái gì đó có ích cho mình, há chẳng phải là một hạnh phúc, một khoái lạc của việc đọc hay sao?

Hoài Nam

Các tin khác

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Băng đang tan nhanh hơn và Bắc Cực cũng “hiện ra” rõ hơn trong vị thế một trung tâm mới của cạnh tranh địa chính trị, nơi các cường quốc vừa ra sức tìm kiếm lợi ích kinh tế - an ninh cho riêng mình, vừa buộc phải hợp tác để bảo vệ một trong những “điểm tựa khí hậu” mong manh nhất của Trái đất.

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Sau hơn 13 năm xung đột, con số cần để tái thiết một Syria đổ nát, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), có thể là 216 tỷ USD, hoặc lớn hơn rất nhiều. Nhưng với Syria, thách thức chính trị, kinh tế và an ninh đan xen chặt chẽ, và thành công của tiến trình chuyển tiếp sẽ phụ thuộc vào việc nước này có thể xây dựng được thể chế bao trùm, có tính chính danh, đồng thời ngăn chặn nguy cơ lún vào vòng xoáy bạo lực và chủ nghĩa chuyên chế hay không.

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Đức - nền kinh tế lớn nhất châu Âu, đang rất lúng túng trước làn sóng tội phạm tài chính gia tăng nhanh chóng. Tình trạng nghiêm trọng đến mức Hiệp hội Thẩm phán nước này mới đây phải lên tiếng cảnh báo, nếu không sớm có hành động hiệu quả, Đức sẽ trở thành “thiên đường cho tiền bẩn”.

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Greenland nhiều lần xuất hiện trong tầm ngắm chiến lược của Washington, từ những ý tưởng trao đổi lãnh thổ thời hậu Nội chiến Mỹ cho tới các toan tính địa chính trị công khai dưới thời Tổng thống Donald Trump. Ẩn sau lớp băng dày của hòn đảo là tiềm năng quân sự, nguồn tài nguyên khổng lồ và những tuyến hàng hải mới đang dần lộ diện. Nhưng cũng tại đó, tham vọng của Mỹ “va chạm” với giới hạn của tình đồng minh phương Tây, luật pháp quốc tế và của một Bắc Cực đang biến đổi nhanh hơn mọi tính toán chiến lược.

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Trong Truyện Kiều, vì ghen nên Hoạn Thư mắng Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ta hiểu thế nào về từ lộn trong ngữ cảnh này?

Phỏng vấn một cái chén

Phỏng vấn một cái chén

PV: Sống cùng chị Chén quá nửa đời mà chưa được phỏng vấn chị lần nào. Xin chị giới thiệu bản thân với độc giả ngắn gọn nhất có thể!

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Mùa thu năm Nhâm Thìn 1832, miền Bắc bị lũ lụt, mùa màng thất thu, dân nghèo xiêu tán, nhiều người dân tỉnh Hà Nội phải xiêu dạt kiếm ăn vào Thanh Hóa hay ra Hải Dương, Yên Quảng. Triều đình Vua Minh Mạng đã tiến hành nhiều biện pháp cứu trợ.

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Sau hơn một thập kỷ kể từ khi cựu lãnh đạo Muammar Gaddafi bị lật đổ năm 2011, Libya vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chia cắt chính trị và bất ổn kéo dài. Quốc gia Bắc Phi này hiện tồn tại song song hai chính quyền đối lập, một là Chính phủ Đoàn kết Dân tộc (GNU) được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, có trụ sở tại Tripoli, và Chính phủ Ổn định Quốc gia (GNS) ở miền Đông, gắn với Hạ viện Libya đặt tại Tobruk.

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Gần cuối tháng 12/2023 và đầu tháng 11/2025, vì một sự may mắn nào đó, sóng biển đã hai lần làm lộ diện một phần lớn tàu cổ Cẩm An tại khu vực biển Thịnh Mỹ, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng. Nhưng sự may mắn ấy chưa được cấp thẩm quyền chớp lấy bởi đang vấp phải sự lừng khừng từ nhiều phía. Nếu không chủ động nắm bắt cơ hội do sóng biển hung dữ mang lại, một ngày không xa, tàu cổ Cẩm An mang chứa trong mình nhiều điều bí ẩn về lịch sử, văn hóa… sẽ lại bị nhấn chìm dưới đáy biển.

"Nhảy dù" giữa thời bình

"Nhảy dù" giữa thời bình

Trong các lực lượng tinh nhuệ thì lực lượng nhảy dù là đứng đầu. Tiền tuyến hậu phương sẽ mơ hồ bởi lính dù luôn xuất hiện sau lưng đối phương. Lính dù phải khỏe như hổ, nhanh như sóc, gan đầy mình, thần kinh thép, trí dũng song toàn… Tiêu chuẩn tuyển chọn rất cao.

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Sau bao năm đối diện với không ít khó khăn, thử thách, thậm chí đôi lúc suýt rơi vào nguy cơ bị "khai tử" bởi dự án xây dựng hạ tầng giao thông, đô thị, đến nay di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối (Hà Nội) đã chính thức được định danh là di tích cấp thành phố, mở ra nhiều hướng tiếp cận mới từ góc độ nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản.

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Nếu họa sĩ Nguyễn Thế Sơn kể chuyện Hà Nội bằng nhiếp ảnh phù điêu thì kiến trúc sư Trần Huy Ánh tiếp cận thành phố bằng trực giác của người “khảo cổ” đô thị. Cuộc đối thoại về những ký ức đô thị trong triển lãm “Những ngã rẽ” đang diễn ra ở ngôi biệt thự Pháp cổ ở Hà Nội gợi mở nhiều suy tư về hồn cốt của đô thị, về di sản trong cơn lốc đô thị hóa hiện nay.

Nga nhận "món quà lớn" từ cựu thù

Nga nhận "món quà lớn" từ cựu thù

Mối quan hệ Nga - Syria đang bước vào một giai đoạn mới, khi chuyến thăm mới nhất của Tổng thống lâm thời Syria tới Moscow đi cùng những cam kết được đánh giá là "món quà địa chính trị" dành cho Điện Kremlin. Trong bối cảnh các cục diện quyền lực ở Trung Đông tiếp tục dịch chuyển, những thỏa thuận này không chỉ mang ý nghĩa song phương mà còn phản ánh chiến lược dài hơi của Moscow trong việc củng cố vị thế khu vực và đối trọng ảnh hưởng phương Tây.

Gaza, nơi sự thật bị chôn vùi dưới bom đạn

Gaza, nơi sự thật bị chôn vùi dưới bom đạn

Chưa từng có cuộc chiến nào trong lịch sử hiện đại lại cướp đi mạng sống của nhiều nhà báo như ở Gaza. Chỉ trong 2 năm, hơn 200 phóng viên và nhân viên truyền thông đã ngã xuống, biến vùng đất nhỏ bé ven Địa Trung Hải thành nơi nguy hiểm nhất hành tinh cho tự do báo chí. Không chỉ là chết chóc, Gaza còn là minh chứng cho một sự thật đáng sợ khác: khi nhà báo bị giết, thế giới sẽ bị tước đoạt quyền được biết.

Nước Anh có thực sự bị “xâm lược”?

Nước Anh có thực sự bị “xâm lược”?

Cuộc biểu tình với hơn 100.000 người tham gia tại London vừa qua đánh dấu bước ngoặt mới của phe cực hữu trong việc đưa vấn đề nhập cư thành trung tâm chú ý trên chính trường Anh. Mặc dù những người biểu tình khẳng định đất nước đang "bị xâm lược", nhưng đằng sau những khẩu hiệu mạnh mẽ ấy là gì? Liệu đó có phải là sự thật hay chỉ là chiến lược chính trị của một phong trào đang lớn mạnh?

Hai câu hỏi từ vụ học sinh hành hung giáo viên

Hai câu hỏi từ vụ học sinh hành hung giáo viên

"Buồn" và "shock" là những gì mà cộng đồng nhận xét về vụ nam sinh lớp 7 túm tóc, nhấn đầu cô giáo ngay trong lớp học ở trường THCS Đại Kim, Định Công, Hà Nội. Trớ trêu thay, vụ việc đó lại xảy ra ngay sau khi Thông tư 19 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về khen thưởng và xử phạt học sinh vừa được ban hành.

Bạn thân yêu

Bạn thân yêu

Ta thường nghe câu "Đời chẳng ai cho không ai cái gì bao giờ". Thế mà có những mối quan hệ người trao đi không hy vọng gì nhận lại, bởi hoàn cảnh người nhận như tận cùng của hoạn nạn.

Phỏng vấn một KOL

Phỏng vấn một KOL

PV: Xin chào anh KOL! Anh cho độc giả một hình dung ngắn gọn về công việc của mình được chứ?