Chùm bài viết của tác giả Thụy Khuê từng được tải trên trang web của GS Trần Hữu Dũng (một Việt kiều hiện định cư tại Mỹ) và bài viết trên Văn nghệ Công an cũng được dẫn lại trên trang web đó. Những tưởng tác giả Thụy Khuê sẽ điều chỉnh cách viết của mình sao cho việc đưa dẫn thông tin được chính xác hơn, cách nhìn - dù từ "phía" nào đi chăng nữa cũng cơ bản giữ được yếu tố khách quan, khoa học.
Tiếc rằng, bài viết gần đây nhất của tác giả Thụy Khuê (vẫn về vụ Nhân văn- Giai phẩm, được đánh số là kỳ XII) mà chúng tôi nhắc tới đây vẫn tiếp tục cho thấy ở tác giả này - ngoài cách nhìn thiên kiến cố hữu là cách đưa dẫn thông tin khá cẩu thả...
Tình tiết "kênh" nhau ngay trong một bài
Trong một đoạn nhắc tới nhà thơ Tố Hữu, tác giả Thụy Khuê cho hay: Năm 1946, Tố Hữu mới có tác phẩm đầu tay là tập "Thơ", năm 1958 được in lại và đổi tên là "Từ ấy". Vậy mà chỉ cách đó một đoạn không xa, tác giả này lại thông tin: Tập thơ "Từ ấy" được NXB Văn học ấn hành năm... 1959.
Một đoạn khác, tác giả Thụy Khuê trích dẫn bài phê phán nhà thơ Hoàng Cầm của nhà thơ Vũ Cao: "Năm 1950, trong một cuộc hội nghị văn công, Hoàng Cầm ngang nhiên tuyên bố: ...", nhưng nguồn trích dẫn lại được tác giả Thụy Khuê ghi là "VNQĐ, số 4, tháng 4/1948". Chẳng lẽ bài viết in năm 1948, người ta lại có thể nhắc tới một sự việc xảy ra mãi tận năm...1950 hay sao?
Nhân nhắc đến hoạt động của Ban kịch Đông Phương, trong phần đầu bài viết, tác giả Thụy Khuê cho biết: "Tháng 12/46, chiến tranh bùng nổ, ban kịch Đông Phương rời Hà Nội, đi lưu diễn ở những vùng phụ cận". Vậy mà, chỉ sau đó ít trang, tác giả Thụy Khuê đã lại khẳng định: "Đến ngày 19/12/46 chiến tranh bùng nổ, ban kịch Phương Đông phải giải tán". Một đằng Đông Phương, một đằng Phương Đông, rồi thì cùng một thời điểm, một bên "rời Hà Nội, đi lưu diễn", một bên "phải giải tán". Thật không biết đâu mà lần.
Chưa hết, trong một trích đoạn nhắc tới bài thơ "Đêm liên hoan" của nhà thơ Hoàng Cầm, tác giả Thụy Khuê có dẫn ra mấy câu thơ (theo một bài viết của nhạc sĩ Phạm Duy) như sau: "Người sau kẻ trước lao vào giặc/ Giữ vững nghìn thu một giống nòi/ Dù ta thịt nát sương rơi/ Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam".
Thú thật, là người ít nhiều thuộc thơ Hoàng Cầm, đọc mấy câu trên, tôi không khỏi có chỗ ngờ ngợ. Tại sao "thịt nát" lại đi với "sương rơi"? Theo phép đăng đối của thơ, chữ "sương" kia đúng ra phải là "xương" chứ. Quả nhiên, chỉ sau đó một quãng, tác giả Thụy Khuê đã lại trích dẫn câu này thành "Dù ta thịt nát xương phơi".
Có thể, để bao biện cho sự "tiền hậu bất nhất" nói trên, tác giả Thụy Khuê sẽ đẩy cho đoạn trích trên của nhạc sĩ Phạm Duy là sai, và phần mình, mình phải trích nguyên văn cái sai đó. Song, là người làm nghiên cứu, sau khi trích dẫn nguyên văn, nếu chỗ nào chưa được chính xác, ta cần chú giải cho người đọc biết, có đâu cứ để hai câu thơ khác nhau cùng ngang nhiên tồn tại trong một bài viết như thế.
Và những suy diễn khiên cưỡng
Đọc bài viết của tác giả Thụy Khuê, ta thấy bà đay đả nhiều về việc nhà thơ Hoàng Cầm, trong kháng chiến chống Pháp, do áp lực của những người lãnh đạo văn nghệ thời bấy giờ, đã buộc phải tuyên bố từ bỏ bộ môn kịch thơ, vốn dĩ là sở trường của ông. Thậm chí, bà còn đẩy vấn đề lên thành: “Hoàng Cầm, vì cách mạng phải treo cổ kịch thơ” của mình.
Những ai có cách suy nghĩ biện chứng đều hiểu rằng, mỗi thời đại đều có những yêu cầu riêng, và nhận thức của con người qua từng thời kỳ cũng khác nhau. Việc một số bộ môn nghệ thuật như chèo, tuồng... không được các đại biểu dự Hội nghị Văn nghệ nói trên "mặn mà" so với thể loại kịch ngắn (thậm chí còn bị coi là tàn tích của thời phong kiến) âu cũng là điều dễ hiểu, khi mà tốc độ cuộc kháng chiến đang vào giai đoạn hối hả, quyết liệt.
Và việc nhà thơ Hoàng Cầm, ngay trong Hội nghị nói trên đã có hành động mang tính biểu tượng là tự "khai tử" bộ môn kịch thơ, bây giờ nhìn lại có thể thấy nó ấu trĩ, quá đà, song đó cũng là phút suy nghĩ thực lòng của nhà thơ, không thể nhân đó mà kết tội những người chỉ đạo Hội nghị buộc ông phải có hành động như vậy được.
Bài viết tường thuật lại Hội nghị văn nghệ nói trên của nhà văn Tô Hoài mà tác giả Thụy Khuê có dẫn ra trong bài viết của mình, theo tôi là một cứ liệu đáng tin cậy. Đây là lời bộc bạch của nhà thơ Hoàng Cầm do Tô Hoài ghi lại: "Tôi định làm thơ thì lại là tôi giết chết kịch. Định làm kịch thì chết thơ.
Chỗ nào tác giả cho là lâm li thì lải nhải, chỗ nào tôi chỉ có đối thoại thường, thì người xem lại cho là dễ nghe . Kịch thơ không thể sống được, nó không diễn tả đúng nhân vật". Theo nhà văn Tô Hoài thì "thật cái thái độ của nhà kịch thơ lúc bấy giờ như thế". Từ suy nghĩ, nhận thức ấy, Hoàng Cầm đã đi đến hành động đứng lên tuyên bố vĩnh viễn chia tay với kịch thơ. Trong bài viết của mình, ngoài trích đoạn nói trên của nhà văn Tô Hoài, tác giả Thụy Khuê còn dẫn ra một đoạn (cũng nhắc về chuyện Hoàng Cầm "khai tử" kịch thơ) của nhạc sĩ Phạm Duy.
Đại thể tình tiết cũng như vậy, chỉ khác là ở bài của nhà văn Tô Hoài (viết và in ra ngay năm ấy), thì quan điểm chỉ đạo của Chủ tịch đoàn là : "Yêu cầu hội nghị không nên có nghị quyết gì về kịch thơ" (có nghĩa là không có bất cứ một quyết định mang tính áp đặt nào về vấn đề này), còn trong trích đoạn hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy (được in ra sau Hội nghị nói trên nhiều năm), thì ông nêu lý do dẫn Hoàng Cầm có hành động "khai tử" kịch thơ là bởi những ý kiến phê phán gay gắt từ nhà thơ Tố Hữu, một trong những người trực tiếp lãnh đạo văn nghệ kháng chiến.
Có nghĩa là nhà thơ Hoàng Cầm vì sợ hãi mà cực chẳng đã, phải lên tiếng từ bỏ ngón nghề sở trường của mình. Theo tôi, nghĩ như vậy là nặng về suy diễn, là không đúng với diễn biến tâm lý của người trong cuộc. Từ suy diễn ấy đã dẫn tác giả Thụy Khuê đi đến một nhận định rất thiếu cơ sở, ấy là khi bà cho rằng: "Sự việc Tố Hữu triệt hạ kịch thơ Hoàng Cầm còn có một lý do khác: đó là sự đối lập tư tưởng giữa hai nhà thơ".
Bấy giờ là năm 1950. Vậy tác giả Thụy Khuê lý giải thế nào về việc, vào năm 1956, trong một cuộc trao đổi điện thoại, chính nhà thơ Tố Hữu đã cất lời ngợi khen thơ Hoàng Cầm. Đây là đoạn trích từ bài viết của chính nhà thơ Hoàng Cầm (đã in trong tập "Nguyễn Đình Thi - bí mật cuộc đời", NXB Văn học năm 2008, trang 71): "Lúc ấy giọng đầu dây bên kia êm dịu và ấm áp hẳn lên: Thế còn Hoàng Cầm có dự định in lại "Bên kia sông Đuống" không? Bài thơ ấy tốt đó. Công nhân, nông dân người ta sẽ dễ nhớ đó".
Ngoài những cách suy diễn nặng về chính trị, không mang yếu tố khách quan khoa học, tác giả Thụy Khuê còn thể hiện sự thiên kiến của mình qua những nhận định hẹp hòi, kiểu như: "Hoàng Cầm (sinh năm 1922) cùng thời với Vũ Hoàng Chương (1916) và Đinh Hùng (1920), là những nhà thơ nổi tiếng trước kháng chiến", trong khi "Tố Hữu (1920) cũng làm thơ từ năm 1937, nhưng thập niên 40, chưa nổi tiếng. 1946 mới có tác phẩm đầu tay: Tập Thơ".
Thật là một sự so sánh hết sức khập khiễng. Chúng ta đều biết, Tố Hữu là nhà thơ cách mạng. Ông làm thơ khi đất nước còn trong vòng nô dịch. Nhiều bài thơ của ông chỉ được lưu truyền bí mật chứ không được xuất bản công khai. Bản thân ông cũng bị tù tội, từng nhiều lần đối mặt với cái chết.
Nhà thơ Chế Lan Viên, trong bài thơ viết tặng nhà thơ Tố Hữu đã có cách nhìn, cách liên hệ thực sự thấu tình: "Giặc cấm cả thơ anh/ Không vào văn học sử?/...Còn tôi mang tuổi tên/ Như áo chèo phường trọ". Đúng là, với những người sẵn sàng hy sinh hết thảy mọi vinh hoa vì nền độc lập của dân tộc như vậy, đặt ra vấn đề "nổi tiếng" sớm hay muộn quả là một điều... bất nhẫn!
Cũng trong bài viết của mình, tác giả Thụy Khuê còn tỏ ra rất không khoa học khi chọn bài thơ "Bắn" của Tố Hữu rồi so sánh nó với bài thơ "Đêm liên hoan" của Hoàng Cầm, để rồi đi đến kết luận: "Đọc "Bắn" của Tố Hữu và "Đêm liên hoan" của Hoàng Cầm, chẳng cần phải có kiến thức về thơ, cũng hiểu ngay tại sao "trong balô của một Vệ quốc quân nào cũng đều có những bài thơ chép tay của Hoàng Cầm", như Phạm Duy đã ghi lại".
Ở đây, trước khi phân tích cái vô lý của ý kiến này, tôi xin khẳng định lại một điều, rằng với tôi, Hoàng Cầm là một nhà thơ có tài. Ông có những bài thơ hay được độc giả ghi nhận. Tuy nhiên, với tôi, Tố Hữu là một nhà thơ lớn. Ông là tác giả của nhiều bài thơ hay và chắc chắn, bài thơ "Bắn" nói trên không hề tiêu biểu cho thơ ông, càng không phải là "một trong những bài thơ mạnh mẽ nhất thời kháng chiến" như bà Thụy Khuê và nhạc sĩ Phạm Duy nhận xét.
Bằng chứng là, có những tuyển thơ sau này của Tố Hữu, dù sách dày tới bốn, năm trăm trang, bao gồm mấy trăm bài, song độc giả rất hiếm khi thấy Tố Hữu chọn bài thơ này. Như vậy, việc chọn bài thơ nói trên để nói về việc tác phẩm "phổ biến" hay không "phổ biến" là một sự vô lý.
Nói chung, một người mang danh là làm nghiên cứu nhưng mục đích chỉ để săm soi điều này điều khác nhằm chứng minh cho một thiên kiến có sẵn của mình, trong khi bỏ qua các yếu tố khách quan, những đặc điểm mang tính lịch sử, thì những nhận định của họ rất khó đem lại sự tin cậy, thuyết phục đối với người đọc