Học tài thi phận
"Học tài thi phận" là câu tục ngữ nói về chuyện đi thi nói chung, rất nhiều may rủi. Các giải thưởng văn chương nghệ thuật dù dưới dạng nào thì cũng là một cuộc thi. Sẽ có tác phẩm, tác giả đoạt giải và tác phẩm, tác giả không đoạt giải. Về lý thuyết thì những tác phẩm đoạt giải hay hơn những tác phẩm bị loại. Đó là nhờ vào những "con mắt xanh" của hội đồng chấm giải từ sơ khảo đến chung khảo cộng với cái tâm trong sáng của họ.
Dư luận giới văn chương nghệ thuật vẫn tâm phục khẩu phục về Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật lần thứ nhất và lần thứ hai. Hai Giải thưởng Văn nghệ 1951-1952 và 1954-1955 cũng được đánh giá cao. Các cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam) những năm 1969-1970, 1972-1973, 1975-1976, 1981-1982 cũng để lại những ấn tượng tốt đẹp... Những năm gần đây, các giải thưởng văn chương nghệ thuật ngày một mất giá, không còn gây được ấn tượng trong giới văn chương nghệ thuật và bạn đọc, thậm chí còn mang lại sự thất vọng. Đã có nhiều ý kiến lý giải về sự xuống cấp của các cuộc trao giải thưởng này. Trong bài viết này, tôi không có ý định phân tích đánh giá về các giải thưởng và các cuộc thi ấy. Tôi chỉ nói về duyên phận, sự may rủi của các tác phẩm trong một môi trường văn chương nghệ thuật bình thường mà thôi.
Ví dụ về nhà thơ, nhà phê bình văn học Lê Thành Nghị. Anh Lê Thành Nghị hiện là Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình Hội Nhà văn Việt Nam khóa 8. Nhưng tôi lại chú ý đến thơ của anh. Thú thực, bình thường các nhà nghiên cứu văn chương làm thơ thì tôi không chú ý lắm; mặc dù các tập thơ của họ khi mới ra đời được nhiều học sinh viết bài ca ngợi. Tôi cho rằng, tư duy hình tượng của người làm thơ và tư duy logic của người làm nghiên cứu là khác nhau. Khi hai tư duy ấy cùng trong một người thì nó sẽ dung hòa nhau thôi, nên cái mà họ viết ra ở dạng nào cũng chỉ bình thường, không xuất sắc được. Hoặc nếu khá về mặt này thì sẽ kém về mặt kia. Khi biết anh Lê Thành Nghị được giải thưởng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, tuy không phải giải A cho hai tập thơ "Mưa trong thành phố" (2000) và "Mùa không gió" (2003), thì tôi tìm đọc xem như thế nào để kiểm tra lại suy nghĩ của mình. Khi đọc xong hai tập thơ được giải của nhà thơ, nhà phê bình Lê Thành Nghị thì tôi hoàn toàn yên tâm với suy nghĩ của mình lâu nay.
Bìa một số tác phẩm được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật do Nhà xuất bản Văn học ấn hành.
Năm 2010, anh Lê Thành Nghị tặng tôi tập thơ mới "Sông trôi không lời". Thú thực, lúc đầu tôi rất hờ hững, cho rằng chắc nó cũng như hai tập thơ trước của anh thôi. Để trân trọng bạn bè tặng sách, lúc còn là Phó Tổng biên tập Báo Công an nhân dân, phụ trách Chuyên đề Văn nghệ Công an, tôi thường đọc để chọn lấy một bài đăng báo. Thật bất ngờ, đọc tập thơ mới của anh, càng đọc tôi càng bị cuốn hút, bị những câu thơ của anh chinh phục, tôi đã đọc một mạch hết cả tập thơ. Sau đó, mặc dù anh Lê Thanh Nghị không yêu cầu, nhưng tự tôi đã viết bài phê bình tập thơ với tiêu đề "Sông trôi không lời, chở nặng phù sa" đăng trên Văn nghệ Công an. Bây giờ, sau bốn năm đọc lại tập thơ, tôi vẫn giữ nguyên đánh giá của mình, thậm chí bình tĩnh nhìn lại thơ hơn chục năm đầu thế kỷ XXI, tôi cho rằng "Sông trôi không lời" là một trong vài ba tập thơ hay nhất. Tập thơ "Sông trôi không lời" thực sự đã vượt lên trên hẳn hai tập thơ được giải thưởng trước đây của chính Lê Thanh Nghị một bậc. Tôi đã giới thiệu với một số bạn bè tập thơ này. Sau khi đọc xong, họ đều đồng tình với đánh giá của tôi... Thế mà ngoài một số bài phê bình trên mấy tờ báo, có thể nói tập thơ đã hoàn toàn chìm trong im lặng, không được một giải thưởng nào, thậm chí còn không được Hội đồng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam đề cử xét trao giải năm đó.
Thế là thế nào? Tôi không hoang mang về sự đánh giá của mình. Nhưng đúng là "Thực tài thi phận". Cuộc đời có quy luật riêng chăng? Cho nên khi thấy người quá hãnh diện khi được giải thưởng, hay quá cay cú khi không được giải tôi đều thấy buồn cười. Quy luật nổi chìm trong cuộc đời chỉ là tương đối thôi. Còn các giải thưởng lại càng là tương đối. Các nhà thơ, nhà văn tự ngẫm mà xem, tác phẩm của mình được các giải thưởng chưa hẳn là tác phẩm hay nhất của mình.
Sự tự tin
Làm công việc gì cũng cần sự tự tin. Không tự tin vào mục tiêu và kết quả sẽ đạt được thì làm gì có đủ nghị lực và quyết tâm mang hết tài năng và sức lực để thực hiện, thì sao có kết quả được? Nhưng tôi thấy giới văn nghệ sĩ hình như có sự tự tin hơn bình thường. Đó là một điều tốt. Hơi thái quá một chút thì không sao, nó sẽ cho ta thêm sức mạnh. Nhưng nếu thực sự thái quá thì lại là ảo tưởng, hão huyền mà không bao giờ đi được đến đích.
Tuy nhiên, mỗi người tự tin một cách khác nhau. Có người tự tin nói ra lời, và có người tự tin nhưng không nói ra mà âm thầm phấn đấu cho kỳ được mục đích của mình.
Tượng đại thi hào Nguyễn Du ở Nghi Xuân - Hà Tĩnh.
Nhà thơ Lý Bạch (Đời Đường) của nước Trung Hoa có sự tự tin vào tài năng của mình mà tôi chưa thấy trong lịch sử văn chương nhân loại có ai tự tin được hơn ông. Bằng hình tượng văn chương, ông tự ví mình như một trái núi lớn sừng sững giữa đất trời ngàn năm: "Bao nhiêu mây nổi bay đi hết/ Chỉ còn núi Kính Đình và ta". Đồng thời, ông cũng nói thẳng ra lời về tài năng của mình: "Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng" (Trời sinh ta tài tất có dùng). Và quả thực, do tài thơ của mình, ông đã có lúc được vua Đường Minh Hoàng rất trọng dụng. Riêng tôi, rất khâm phục sự tự tin của ông khi ông không tranh tài với nhà thơ Thôi Hiệu lúc ông đến lầu Hoàng Hạc thấy Thôi Hiệu đã đề thơ ở đó. Người tự biết mình là người tự tin nhất. Trước bài thơ "Hoàng Hạc lâu" của Thôi Hiệu, Lý Bạch đã buông bút: "Nhãn tiền hữu cảnh họa bất đắc/ Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu" (Trước mắt có cảnh đẹp mà không làm thơ được/ Bởi Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu mất rồi). Người có tài là người nhìn thấy đúng tài năng của người khác. Tự tin về tài năng của mình như Lý Bạch, nhưng ông cũng tự biết trong trường hợp này thì mình không thể tài bằng Thôi Hiệu được. Sự tự biết ấy là một tài năng. Lịch sử văn chương đến nay đã chứng minh sự tự tin, tự biết này của thi tiên Lý Bạch là hoàn toàn đúng. Mười ba thế kỷ đã trôi qua, từ khi có lời đánh giá của Lý Bạch, vẫn chưa có bài thơ nào về lầu Hoàng Hạc sánh được với bài thơ "Hoàng Hạc lâu" của Thôi Hiệu.
Nhà thơ Maiakốpxki của Nga cũng có một sự kiêu hãnh, tự tin vào tài năng của mình: "Ta từ trên một trời thơ bước xuống". "Một trời thơ" thì quả là vĩ đại. Có một giai thoại cũng ghi nhận sự tự tin của Maia. Đó là, có một nhà thơ thời đó không thích thơ Maia và đố kỵ với ông, có nhận xét rằng thơ Maia không thể sống lâu được. Maia đã cười mỉm mà rằng: "Một nghìn năm sau nếu ông sống lại, ông sẽ thấy tôi ngồi chờ ở đó rồi!".
Chúng ta vẫn thường nói về sự khiêm tốn của Nguyễn Du khi ông kết thúc "Truyện Kiều" bằng câu thơ: "Lời quê chắp nhặt dông dài/ Mua vui cũng được một vài trống canh". Vậy Nguyễn Du có tự tin vào tài năng của mình không? Ông có tự tin vào sức sống của "Truyện Kiều" không? Điều này thật khó có thể đưa ra lời kết. Nhưng tôi thấy Nguyễn Du đã trò chuyện với thi thánh Đỗ Phủ rất thành thực: "Tôi và ông ở hai thời đại khác nhau, thương nhau luống rơi nước mắt". Nếu ông không tự tin vào tài thơ của mình có thể trường tồn, sánh với người đối thoại thì chả lẽ ông đã "thấy người sang bắt quàng làm họ" hay sao? Tôi nghiêng về ý cho rằng, đại thi hào dân tộc Nguyễn Du tự tin vào tài năng của mình một cách âm thầm.
Trong nền thơ Việt Nam hiện đại, thi sĩ Chế Lan Viên đã thể hiện sự tự tin của mình: "Anh tồn tại mãi/ Không bằng tuổi tên mà như tro bụi/ Như ngọn cỏ tàn đến tiết lại trồi lên" (Từ thế chi ca). Còn thi sĩ Tố Hữu có phải cũng gửi lòng mình qua đề tài dân ca Quan họ: "Ai về, ai nhớ ai quên/ Mình về đến hẹn lại lên cùng người". Vâng, "đến hẹn lại lên" có phải không chỉ là lên hội, mà còn cả ngầm ý lên Thi sơn cùng người chăng?
31/5/2014