Phát hiện sớm ung thư vú, cơ hội sống vẫn cao

Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Ghi nhận ung thư toàn cầu (Globocan) đưa ra tại hội thảo về ung thư  vú tổ chức tại Hà Nội ngày 26-4 với sự tham gia của nhiều chuyên gia Pháp và Việt Nam, ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Việt Nam và có tỷ lệ mắc mới cao nhất, ước tính 28,1/100.000 phụ nữ.

Ths. Nguyễn Minh Khánh, Khoa Ngoại vú (Bệnh viện K) cho biết số bệnh nhân mắc ung thư vú đang ngày càng gia tăng ở mức đáng lo ngại. Mỗi năm có khoảng 12.000 phụ nữ mắc mới ung thư vú. Một lo ngại nữa là ung thư vú ở Việt Nam xuất hiện khá nhiều ở lứa tuổi trung niên. 

Trong khi ở các nước châu Âu phụ nữ mắc ung thư vú chủ yếu từ 64 tuổi trở lên thì ở Việt Nam độ tuổi mắc nhiều nhất là 45-55, thậm chí còn rất trẻ. Riêng năm 2016, có khoảng 2.400 bệnh nhân điều trị ở Khoa Ngoại vú, trongđó, nhiều người trẻ tuổi và hầu hết trong đều xin cắt bỏ toàn bộ vú khi phát hiện có u.

Ths. Nguyễn Minh Khánh lưu ý: Phụ nữ Việt Nam có tâm lý e ngại nên không đi tầm soát ung thư vú sớm. Vì thế, khi  phát hiện thì đã muộn và phụ nữ dù đã có hay chưa vẫn luôn yêu cầu cắt bỏ toàn bộ tuyến vú. Trong khi đó, ở châu Âu, do chất lượng sống cao nên khi được tư vấn, họ sẽ truyền hóa chất cho nhỏ u mới tiến hành phẫu thuật cắt bỏ, để không làm ảnh hưởng tới toàn bộ vú.

Theo Ths. Nguyễn Minh Khánh, do tuyến vú người Việt Nam bé cho nên khi phát hiện khối u thường đã chiếm hết diện tích vú. Nhưng trừ khi đã ở giai đoạn muộn 3, 4, khối u to, di căn thì cần phải cắt bỏ vú, còn nếu phát hiện sớm (giai đoạn 1, 2) thì có thể bảo toàn vú bằng truyền hóa chất cho khối u nhỏ lại rồi mới phẫu thuật cắt rộng tuyến u và 1/3 tuyến vú. Tuy nhiên, những trường hợp này được chỉ định cho bệnh nhân phát hiện u ở giai đoạn sớm, u dưới 3cm và chưa di căn.

Đặc biệt với phụ nữ còn trẻ, nếu phát hiện sớm có thể bảo tồn tuyến vú và vẫn nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ. Còn những phụ nữ đã cắt bỏ tuyến vú sẽ có nhiều kỹ thuật để tạo ngực thẩm mỹ như đặt túi silicon, hoặc dùng da bụng hay mỡ cơ bụng lên đắp ngực. Chi phí tạo hình này đang được Bệnh viện K thực hiện miễn phí, gia đình bệnh nhân chỉ mua túi để đặt vào tuyến ngực. Nhưng con số bệnh nhân muốn tạo hình ngực cũng không nhiều.

PGS. TS. Trần Văn Thuấn -Giám đốc Bệnh viện K cho biết y học Việt Nam và Bệnh viện K đã đạt được những thành tựu lớn trong chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư. Nhiều tiến bộ mới nhất đã được áp dụng điều trị cho bệnh nhân ung thư vú Việt Nam.

Kỹ thuật sinh thiết bằng định vị kim dây thực hiện tại Bệnh viện K giúp chẩn đóan sớm các khối u chưa phát hiện được trên lâm sàng. Bệnh viện K còn áp dụng những kỹ thuật mới nhất để vừa chẩn đoán bệnh chính xác, vừa phân loại chi tiết các thể bệnh học giúp cho từng bệnh nhân có phương pháp điều trị thích hợp. 

Các kỹ thuật chụp cắt lớp đa dãy, chụp cộng hưởng từ với từ lực cao, chụp xạ hình, PET-CT giúp đánh giá giai đoạn bệnh, kết quả điều trị tốt hơn X-quang thường và siêu âm ổ bụng như trước. Việc sinh thiết các vị trí di căn ở sâu cũng có thể được thực hiện nhờ các phương pháp hiện đại hỗ trợ.

Phụ nữ nên tầm soát ung thư vú định kỳ để phát hiện bệnh sớm
Phụ nữ nên tầm soát ung thư vú định kỳ để phát hiện bệnh sớm

Trong phẫu thuật, với các bệnh nhân ở giai đoạn sớm, khối u nhỏ đã được phẫu thuật bảo tồn thay vì cắt toàn bộ vú như trước. Những bệnh nhân có khối u lớn, không thể giữ được tuyến vú thì phẫu thuật tái tạo vú sẽ giúp bệnh nhân có tâm lý tự tin sau điều trị. Kỹ thuật phát hiện và sinh thiết hạch gác (hạch cửa) giúp tránh được vét hạch nách ở các trường hợp chưa di căn hạch, hạn chế được các biến chứng.

 Sau các ca mổ, khi phải xạ trị thì các kỹ thuật điều biến liều (IMRT) làm giảm thiểu tác dụng có hại của xạ trị đối với phổi, tim, xương sườn… Các máy xạ trị gia tốc năng lượng cao giúp giảm thời gian xạ trị, hạn chế các tác dụng phụ của xạ trị.

PGS. TS Trần Văn Thuấn cũng cho hay, giờ đây, các bệnh nhân ung thư vú có cơ hội sống lâu hơn bởi các thuốc điều trị phong phú: hóa chất, nội tiết, chống di căn xương mới nhất và hoạt tính chống u cao, tác dụng phụ thấp đều đã có tại Bệnh viện K. Đặc biệt, các thuốc điều trị đích, hạn chế ảnh hưởng đến tế bào lành đã được đưa vào điều trị. Các thuốc chống nôn, thuốc kích thích bạch cầu thế hệ mới hỗ trợ tích cực cho các phương pháp điều trị chính, giúp bệnh nhân vượt qua các tác dụng phụ.

Nhờ áp dụng những thành tựu mới trong chẩn đoán và điều trị, hiện nay nhiều bệnh nhân ung thư vú được phát hiện ở giai đoạn sớm với tỷ lệ sống trên 5 năm tới 85,6% so với tỷ lệ 67,7% những năm 1990 tại Bệnh viện K.

“Phụ nữ nên tầm soát ung thư vú định kỳ để phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, sẽ kéo dài thời gian sống. Nếu trong gia đình có người thân từng bị mắc ung thư vú, thì những phụ nữ trong gia đình nên đi tầm soát ung thư vú sớm”-Đây là lời khuyên của các chuyên gia tại hội thảo.

Thanh Hằng

Các tin khác

Lần đầu tiên đặt bóng vào khí quản cứu thai nhi trong bụng mẹ

Lần đầu tiên đặt bóng vào khí quản cứu thai nhi trong bụng mẹ

Các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã nội soi buồng ối đặt bóng gây bít khí quản thai nhi điều trị thoát vị hoành bẩm sinh cho bào thai còn đang trong bụng mẹ (kỹ thuật cao FETO). Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam triển khai kỹ thuật hiện đại này cho trường hợp mắc bệnh lý bẩm sinh vô cùng phức tạp.

Gia tăng ung thư tế bào hắc tố, cảnh giác với vết đen "vô hại" dưới bàn chân

Gia tăng ung thư tế bào hắc tố, cảnh giác với vết đen "vô hại" dưới bàn chân

Nhiều người khi thấy một nốt ruồi mới mọc, một vết đen hay mảng da sẫm màu dưới lòng bàn chân thường "tặc" lưỡi cho qua vì nghĩ chỉ là vết tụ máu do va đập hoặc nấm kẽ chân. Nhưng đây là vị trí "ưa thích" của ung thư tế bào hắc tố – loại ung thư da ác tính và có tỷ lệ tử vong cao nhất.

Vì sao người trẻ phải can thiệp tim mạch ngày càng nhiều?

Vì sao người trẻ phải can thiệp tim mạch ngày càng nhiều?

Theo Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), tỷ lệ người dưới 50 tuổi cần can thiệp tim mạch chiếm khoảng 30%, dưới 40 tuổi phải can thiệp tim mạch chiếm 15–20%; thậm chí có những trường hợp dưới 20 hay 30 tuổi đã bị nhồi máu cơ tim.

Xu hướng kết hôn muộn và hệ luỵ chất lượng dân số

Xu hướng kết hôn muộn và hệ luỵ chất lượng dân số

Kết hôn muộn sẽ dẫn đến sinh con muộn, sinh ít con, thậm chí không sinh con làm cho mức sinh giảm thấp. Nếu mức sinh tiếp tục giảm, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với những hệ lụy như thiếu hụt lực lượng lao động.

Phẫu thuật cứu ngư dân bị cáp tời trên thuyền cuốn nát chân

Phẫu thuật cứu ngư dân bị cáp tời trên thuyền cuốn nát chân

Sau 3 ngày 2 đêm lênh đênh trên biển với vết thương nặng ở chân phải do bị cáp tời cuốn, nam ngư dân được đưa vào Bệnh viện Đa khoa Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) trong tình trạng gãy hở, xương gãy phức tạp, nhiều dị vật, mô mềm tổn thương nặng, có dấu hiệu nhiễm trùng...

Các y bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn tham dự lễ tri ân nghĩa cử cao đẹp hiến tạng của nữ nhân viên y tế B.H.A.

Nữ nhân viên y tế hiến tạng cứu sống 3 người

Một nữ nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Hà Nội) không may mắc bệnh nặng, dù được các bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng chị không qua khỏi. Gia đình đã đồng ý hiến tạng của chị để cứu sống 3 người bệnh nặng.

Bảo vệ lứa tuổi vị thành niên trước nguy cơ làm mẹ sớm

Bảo vệ lứa tuổi vị thành niên trước nguy cơ làm mẹ sớm

Tình trạng mang thai và sinh con ở tuổi chưa thành niên tại Việt Nam còn cao tại một số khu vực, nhất là Tây Nguyên và Trung du, miền núi phía Bắc. Tảo hôn và sinh con sớm (15-19 tuổi) ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cao gấp 3 lần so với toàn quốc. 

Kịp thời cứu 5 ngư dân gặp nạn trên biển

Kịp thời cứu 5 ngư dân gặp nạn trên biển

Ngày 23/9, tại Trạm Kiểm soát Biên phòng Trần Đề thuộc Đồn Biên phòng Trung Bình - Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng TP Cần Thơ tiếp nhận 5 ngư dân gặp nạn trên biển được một tàu cá phát hiện, cứu vớt và đưa vào bờ bàn giao cho lực lượng chức năng.

TP Hồ Chí Minh: Khám sức khỏe toàn dân vượt cột mốc 5 triệu người

TP Hồ Chí Minh: Khám sức khỏe toàn dân vượt cột mốc 5 triệu người

Tính đến 9h ngày 21/9, TP Hồ Chí Minh đã ghi nhận 5.018.955 người được khám sức khỏe, khám sàng lọc, chính thức vượt cột mốc 5 triệu người. Song song với tiếp tục mở rộng độ bao phủ, chương trình đang chuyển sang một yêu cầu quan trọng hơn: bảo đảm khám thực chất, nâng cao chất lượng chuyên môn, hoàn thiện kết quả trên Hồ sơ sức khỏe điện tử và làm sạch dữ liệu, bảo đảm số liệu trên hệ thống phản ánh đúng số người thực tế đã được khám.