1.Lẽ dĩ nhiên, di sản văn hóa (DSVH) được UNESCO ghi danh ở danh sách nào cũng là niềm tự hào và ít nhiều đem đến những hiệu ứng tích cực cho di sản cũng như địa phương sở hữu di sản đó. Trước hết, danh hiệu của UNESCO khiến di sản được dư luận, cộng đồng, giới nghiên cứu và các cấp quản lý văn hóa quan tâm chú ý nhiều hơn. Sức sống của di sản vì thế cũng có những bước chuyển mình đáng mừng. Với Chương trình hành động quốc gia, việc bảo tồn, bảo vệ và phát huy giá trị di sản cũng được hoạch định chiến lược, có tính thống nhất cao. Bản thân địa phương có di sản thế giới cũng có sức hút nhất định đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Kèm theo đó, di sản cũng dễ thu hút đầu tư từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau. Bản thân những cống hiến của chủ thể văn hóa cũng được xã hội thừa nhận, đem đến cho họ niềm tự hào, khích lệ, để từ đó họ ý thức hơn về việc gìn giữ, trau dồi và truyền trao di sản mà chính mình đang sáng tạo, diễn xướng…
Nhưng vinh quang luôn đi liền với trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ nó. Đối với các DSVH được UNESCO vinh danh, các quốc gia thành viên luôn phải ký cam kết thực hiện Chương trình hành động quốc gia để bảo vệ và phát huy di sản đã được tổ chức này ghi danh. Nhìn chung, kinh phí để thực hiện Chương trình hành động này do các quốc gia, địa phương sở hữu di sản thế giới bỏ ra là chính, UNESCO chỉ tư vấn, tham mưu… chứ hiếm khi rót kinh phí cho những hoạt động này cho từng quốc gia hay từng DSVH được vinh danh. Dẫu biết, UNESCO vinh danh hay không thì trách nhiệm của chúng ta vẫn phải bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di sản, nhưng rõ ràng, kinh phí để thực hiện Chương trình hành động này cũng như để gìn giữ, phát huy di sản nói chung ai cũng biết là không nhỏ.
Đơn cử như với Quan họ Bắc Ninh sau khi được UNESCO vinh danh là DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại, đã có hàng loạt Chương trình hành động quốc gia mà Việt Nam phải thực hiện. Chỉ tính riêng việc đưa Quan họ Bắc Ninh vào trường học đã thực sự tốn kém về tiền bạc khi phải soạn thảo, hoàn thiện giáo án, đào tạo giáo viên, cung cấp trang thiết bị giảng dạy… Hội Lim cũng nằm trong Chương trình hành động quốc gia, hằng năm cũng phải bảo tồn và năm 2011, việc triển khai thử nghiệm những canh hát Quan họ cổ, Quan họ không nhạc đệm... không thể nói là không hao công tốn của. Hay như với Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO vinh danh là Kiệt tác truyền khẩu của nhân loại, mỗi dịp Festival Cồng chiêng hay Liên hoan chỉnh chiêng, Nhà nước phải đầu tư không ít kinh phí… Bên cạnh đó, hàng loạt dự án phục hồi các lễ hội để trả lại không gian đích thực cho Cồng chiêng Tây Nguyên như phục dựng Lễ đâm trâu mừng lúa mới, Lễ bỏ mả… khá kỳ công và tốn kém.
2. Được UNESCO vinh danh là một sự ghi nhận quý giá về giá trị của DSVH. Nhưng để di sản được bảo vệ và phát huy giá trị đích thực trước hết cần phải nhận thức đầy đủ giá trị DSVH cũng như danh hiệu mà nó được UNESCO vinh danh. Thực tế, có không ít ngộ nhận không đáng có xung quanh "sự kiện" UNESCO vinh danh DSVH. Như trường hợp Hội Gióng được UNESCO vinh danh là DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2010 thì ngay sau đó đã có những luồng tư tưởng, ý kiến không đúng mực. Như một nhà báo sau khi chứng kiến người dân nơi đây tham gia thực hành lễ hội với trang phục thường ngày của họ đã bức xúc cho rằng Nhà nước "nên đầu tư trang phục sao cho đồng bộ, mang đậm bản sắc văn hóa Việt, cho xứng tầm di sản thế giới".
TS Lê Minh Lý - Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẳng định ngay: "Cần để Hội Gióng tồn tại như vốn có, để cộng đồng tự tổ chức và điều hành lễ hội của họ, hạn chế đến mức thấp nhất việc Nhà nước hóa lễ hội, "nâng tầm" thành "sự kiện" của toàn xã hội. Mặt khác, cần giúp cộng đồng nhận thức rõ vấn đề này và can ngăn sự ngộ nhận về văn hóa, làm khác biệt hay thay đổi…"
Thông thường khi DSVH được vinh danh, xã hội và chính những người thực hành di sản hay mắc phải hội chứng "phải làm gì đó cho di sản tỏ ra độc đáo, xứng đáng với danh hiệu được tôn vinh". Nhưng nói cho cùng thì cách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH đúng mực nhất vẫn là để di sản giữ được giá trị gốc và thích ứng với mọi thay đổi của cuộc sống. GS Lưu Trần Tiêu - Chủ tịch Hội đồng DSVH Quốc gia quan niệm: "DSVH không phải là cái gì đó nhất nhất bất biến".
Hơn thế, không phải đã trở thành di sản thế giới được UNESCO công nhận thì mặc nhiên DSVH đã ngời ngời sức sống và giá trị của nó đương nhiên được công nhận. Sự thật, đây đó, ánh hào quang từ danh hiệu mà UNESCO vinh danh cũng có những ảnh hưởng không tích cực đối với giới nghiên cứu và những người thực hành di sản. Chẳng hạn, danh hiệu Kiệt tác văn hóa phi vật thể truyền khẩu của nhân loại mà UNESCO đã vinh danh Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên ít nhiều đã ảnh hưởng đến Chiêng Mường. Điều đáng buồn là nhiều người khi nghiên cứu chiêng Mường lại áp giá trị của Cồng Chiêng Tây Nguyên với Chiêng Mường, như cho rằng Chiêng Mường cũng theo suốt cuộc đời người dân từ khi sinh ra cho đến khi qua đời? Nhưng thực tế người Mường không có lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, không có lễ bỏ mả như người Tây Nguyên… Đấy là chưa nói, trong quá trình bảo tồn và phát huy di sản này, đã có những lệch lạc đáng tiếc.
Đã có thời, người ta sưu tầm Chiêng Mường theo lối xác định 1 bộ Chiêng gồm 12 chiếc có âm thanh chuẩn xác theo 12 âm tương tự hệ âm bình quân luật của phương Tây. Nhưng trong thực tế, người Mường không có chút ý niệm nào về "lên dây" (chỉnh cao độ) như Cồng chiêng Tây Nguyên. Thậm chí, người Mường có thể đổi chiêng sau mỗi lần diễn tấu để diễn tấu lại chính bài chiêng đó. Chuyện đánh dấu Chiêng Mường theo âm vực "đồ rê mí…" của phương Tây xét ở góc độ nào đó là một cách chụp mũ, kiểu "đầu châu Á, má châu Âu" không đáng có...
3. Năm 2010 được ví là "mùa vàng" di sản thế giới của Việt Nam với ba DSVH được UNESCO vinh danh gồm: Bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Lê và Mạc (1442 - 1779) được UNESCO chính thức công nhận là di sản tư liệu thế giới, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long là di sản thế giới, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc là DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại. Chưa bao giờ trong cùng một năm chúng ta có nhiều di sản thế giới được UNESCO công nhận như vậy. Điều đó ít nhiều tạo hội chứng đề đạt xây dựng hồ sơ DSVH đệ trình UNESCO trên cả nước.
Thực trạng đó đặt ra bài toán khó cần phải giải là làm sao để "quy hoạch" di sản đệ trình UNESCO trên cả nước. Theo thông tư Quy định việc kiểm kê DSVH phi vật thể và lập hồ sơ khoa học DSVH phi vật thể để đưa vào Danh mục DSVH phi vật thể quốc gia do Bộ VHTTDL ban hành ngày 30/6/2010, hằng năm sẽ công bố kết quả kiểm kê ở các địa phương trước ngày 31/10. Năm 2011 dự kiến sẽ là năm đầu tiên kết quả kiểm kê trên cả nước sẽ được công bố. Dù không xếp hạng, nhưng trên cơ sở đó DSVH phi vật thể tiêu biểu trong cả nước sẽ được đưa vào Danh sách DSVH phi vật thể Quốc gia. Từ đó, DSVH phi vật thể được xây dựng Hồ sơ quốc gia đệ trình UNESCO xét vinh danh di sản thế giới trước tiên phải là những di sản được đưa vào Danh sách DSVH phi vật thể quốc gia.
Với di sản vật thể, điều tiên quyết phải là di sản được xếp hạng là di sản đặc biệt rồi đến di sản quốc gia mới được xây dựng Hồ sơ đệ trình UNESCO. Có thể xem đây như một chiến lược lâu dài "quy hoạch" DSVH đệ trình UNESCO của Việt