Nguyễn Du và thời đại
"Người thơ phong vận như thơ ấy" - câu thơ đó cứ ám ảnh tôi từ khi tôi biết yêu văn chương. Trong tôi, đã là văn chương thì phải sáng, phải đẹp; đã là nhà thơ nhà văn thì phải thanh cao, sang trọng. Trong dân gian đã có câu "rất nên thơ" là để chỉ những sự tích hay, những câu chuyện đẹp. Sự tích hay, câu chuyện đẹp tiêu biểu của nước ta, ấy là "Truyện Kiều". Dẫu câu chuyện Kim Trọng - Thúy Kiều khởi thủy từ Trung Quốc, nhưng cụ Nguyễn Du chỉ dựa vào cái tích ấy thôi, chứ cụ đã tạo ra Kim Trọng và Thúy Kiều hoàn toàn Việt Nam rồi. Cả Kim Trọng và Thúy Kiều đều đẹp từ vẻ đẹp bề ngoài đến tâm hồn, đạo đức. Chàng Kim xuất hiện dưới buổi chiều xuân ấy thật lộng lẫy: "Một vùng như thể cây quỳnh cành giao". Còn Thúy Kiều cùng Thúy Vân đã được cụ Nguyễn yêu quý tả bằng một câu thơ như tạc, như khắc để sống mãi với thời gian: "Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa"...
Nói theo ngôn ngữ lý luận thì đại thi hào Nguyễn Du đã "Việt hóa" câu chuyện Kim Trọng - Thúy Kiều. Chỉ một thành công này thôi cũng đủ để cụ Nguyễn trở thành thiên tài, sống mãi cùng non sông đất nước. Vì sao vậy, bởi cụ Nguyễn khi ấy chỉ sáng tạo một mình, chưa có ai dẫn dắt tư tưởng, chưa có các viện văn học chỉ cho về mặt lý luận là làm sao hình tượng và ngôn ngữ văn chương, cũng như các phương diện khác đều phải đậm đà bản sắc dân tộc. Có thể nói, đại thi hào Nguyễn Du đã một mình một ngựa đi trước thời đại hàng mấy trăm năm khi "thổi" vào Kim Trọng - Thúy Kiều những tâm hồn Việt. Bởi vì cho đến tận ngày nay, khi đã có sự dẫn dắt về tư tưởng, khi đã có Viện Nghiên cứu Văn học từ hơn nửa thế kỷ, mà còn rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận, nhà nghiên cứu đã làm ngược lại, là "Tây hóa" tâm hồn Việt, phong cách Việt mà đáng nhẽ điều phải làm là "Việt hóa" những phương pháp lý luận, phong cách sáng tác từ phương Tây, từ Mỹ.
Buổi tọa đàm thơ Việt - Mỹ tổ chức tại trụ sở Hội Nhà văn ngày 5/6/2012.
Nền văn chương hiện đại Việt Nam nói riêng, nền văn hóa Việt Nam nói chung đang vật lộn giữa hai xu hướng "Tây hóa", "Mỹ hóa" và xu hướng giữ vững nền văn hóa Việt. Dẫu hội nhập kinh tế là xu hướng tất yếu không thể cưỡng lại, thì văn hóa văn chương nghệ thuật mỗi dân tộc vẫn phải riêng biệt. Bất kỳ ai đã làm văn chương nghệ thuật đều biết phong cách riêng của mỗi nhà văn, mỗi nghệ sĩ là điều quyết định sự thành công. Thế thì phong cách dân tộc cũng là điều quyết định của mỗi nền văn chương nghệ thuật. Việt hóa văn hóa nước ngoài hay là Mỹ hóa, Tây hóa văn hóa Việt không khó trả lời nhưng khó thực hiện. Một gương mặt lai không bao giờ là đại diện cho dân tộc Việt
Tôi rất trân trọng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và các nước châu Âu. Nhưng về văn hóa, Việt
Với những suy nghĩ trên tôi càng thấy cụ Nguyễn Du lừng lững. Cụ là đại thi hào thì đã được thế giới công nhận rồi. Cụ còn là một anh hùng khi dám tố cáo, phê phán chế độ phong kiến, làm vua Tự Đức tức giận đòi đánh ba trăm roi. Cụ còn là nhà tư tưởng đi trước thời đại khi đã "Việt hóa" cả văn hóa nước ngoài... Tôi thấy chúng ta dựng tượng Nguyễn Du còn ít quá, mặc dù tôi vẫn hiểu tượng đại thi hào Nguyễn Du đã được dựng trong trái tim mỗi người dân Việt
Hội nhập với thế giới là phải mang Nguyễn Du ra với thế giới. Phải xây dựng nền lý luận văn chương mang phong cách Việt Nam trên nền tảng truyền thống, phải "Việt hóa" nền lý luận văn chương Mỹ, văn chương phương Tây; chứ không phải là mang những tập thơ "Tây hóa" ra đọ với họ. Ở điểm này tôi thấy chúng ta còn rất lúng túng. Xu thế "Tây hóa", "Mỹ hóa" rất có thể sẽ tràn bờ nếu cứ để những nhà nghiên cứu lý luận cổ vũ cho nó, còn những nhà lý luận phê bình khác biết mà im lặng. Biết mà im lặng là có tội. Rồi lịch sử văn chương sẽ hỏi, nói như Béctôn Brếch: "Sao các nhà thơ, nhà văn, nhà lý luận phê bình lúc ấy lại cứ lặng im?".
Viết cho ai đọc?
Bây giờ còn đặt ra câu hỏi này e rằng không hợp. Nhưng cái gì cũng có gốc của nó. Rõ ràng sáng tác để có người đọc luôn là một yêu cầu của các nhà văn từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Không có người đọc thì cứ để trong lòng mình thôi chứ viết ra làm gì cho tốn giấy, tốn mực. Nhà thơ Nêvan của Cộng hòa Séc đã viết: "Tiếc cho gỗ rừng/ Đem in sách dở". Một triết gia của Ấn Độ cũng viết:"Chỉ nên đọc sách của những người đã đắc đạo". Đời người như "bóng câu qua cửa sổ", đừng để mất thì giờ vào những việc không có ích. Vì thế, viết sao để người đọc hiểu, yêu thích và nhớ mãi vẫn là điều tâm niệm của các thế hệ nhà văn từ đời này qua đời khác.
Đến nay mà đặt ra vấn đề viết cho dễ hiểu thì thật là ấu trĩ. Nhưng những sáng tác để người đọc không hiểu được thì cũng là ấu trĩ không kém. Sáng tác mà để mọi người không hiểu thì sáng tác để làm gì? Tất nhiên không phải tác phẩm nghệ thuật nào cũng để mọi người hiểu hết. Nghệ thuật là để người đọc, người xem, người nghe hiểu nhưng không hoàn toàn hiểu hết mọi điều. Thế mới cần khám phá, và cần những chìa khóa để mở. Điều này thì cụ Nguyễn Du vẫn là đỉnh cao số một. Từ hai trăm năm nay quần chúng nhân dân đã hiểu và thuộc "Truyện Kiều", kể cả nhiều người không biết chữ, có người đọc thuộc, có thể đọc xuôi và đọc ngược từ đầu đến cuối truyện. Nhưng những viện nghiên cứu văn chương, các giáo sư - tiến sĩ đã và đang còn tốn nhiều giấy mực, bởi chẳng khi nào chúng ta có thể nói là đã hiểu hết, đã khai thác hết giá trị của "Truyện Kiều". Văn chương đích thực là như thế chăng?
Có người nói nền văn chương của chúng ta từ xưa đến nay là một giai đoạn và bây giờ bắt đầu là một giai đoạn khác, giai đoạn hội nhập với thế giới. Biết rồi, khỏi phải nói. Nhưng hội nhập với thế giới là như thế nào? Về kinh tế thì rõ rồi. Về con người thì luật pháp đã cho phép hôn nhân dị chủng (trong khi trên thế giới, có nhiều nước không cho phép như vậy). Còn về văn hóa, những nền văn hóa lớn đều bảo vệ văn hóa của họ. Họ đi truyền bá văn hóa của mình có bài bản, có chiến lược. Chỉ có các nước nhỏ, các nước chậm phát triển là có nguy cơ bị các nền văn hóa của các nước lớn, các nước giàu đồng hóa. Ở đời, những người có nhân cách ai cũng muốn tự do được là mình, không ai muốn phải làm như người khác. Một đất nước cũng vậy, nước nào cũng có quốc kỳ, quốc ca, quốc huy riêng. Còn văn hóa, Liên hiệp quốc chưa bao giờ lấy nền văn hóa nào là chuẩn. Liên hiệp quốc là tổ chức liên hiệp của các nước, thế thì văn hóa của thế giới cũng là liên hiệp các nền văn hóa. Mỗi nước cần có và phải có nền văn hóa riêng. Văn chương nghệ thuật cũng vậy.
Mới đây, tôi có dự buổi tọa đàm về thơ với các nhà thơ ở một trường đại học của Mỹ, tổ chức tại trụ sở Hội Nhà văn Việt
Không phải bao giờ một đất nước có nền kinh tế phát triển cũng đi liền với một nền thơ phát triển. Tôi đồ rằng ngay ở nước ta cũng vậy. Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây tiên đoán: "Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay". Bây giờ, kinh tế đất nước đã vượt xa cả mong ước của Người. Nhưng về thơ liệu chúng ta đã vượt được các giai đoạn thơ trước? Hiện nay, chúng ta đã có những nhà thơ nào sánh được với Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính?
Tôi cũng không cực đoan đến mức như một số người cho rằng đây là một giai đoạn thụt lùi của thơ Việt