Có vài điều, tôi cần trao đổi lại với một số bạn đọc lớn tuổi trước khi đi vào bài viết chính. Danh xưng “Anh” mà tôi sử dụng như một chủ từ trong chuyên mục “Trà dư tửu hậu”, thật ra không phải để ám chỉ ngôi thứ. Tôi, năm nay ba mươi mốt tuổi, đã có gia đình và hai con trai, lại nệ cổ và coi trọng truyền thống văn hóa. Tôi nghĩ, tôi biết cách hành xử sao cho phù hợp nhất.
Danh xưng “Anh” tôi chọn, vì đây là chuyên mục tôi thể hiện bằng văn phong trào phúng kiểu của bây giờ, tôi tạm gọi là “trào phúng chém gió”, theo ngôn ngữ mạng. Vấn đề quan trọng hơn, hãy chú tâm vào mục đích mà bài viết của tôi muốn hướng đến. Chứ không phải là bắt bẻ nhau một danh xưng, ngay cả khi nó phù hợp với giọng điệu của tổng thể toàn bài.
Kính!
1. Năm nào đến tháng mưa, anh lại nghe điệp khúc rất quen thuộc của các nhà làm giáo dục “Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp cao đến thế thì tổ chức thi làm gì cho tốn ngân sách”.
Khi các nhà giáo dục nói điều này, anh đang uống cà phê cóc. Dạo này, anh đành phải vứt bỏ cái khí chất đào hoa phong lưu của anh đi để sống sao cho tằn tiện nhất. Anh vẫn ổn, chỉ là phải khéo co chân, khéo rụt tay một chút, chưa mượn nợ là may.
Ngay lúc đang uống cà phê, thì anh đọc được thông tin này, “Năm ngoái, mức chi cho một thí sinh khoảng 200.000 đồng, ngân sách cho thi tốt nghiệp trên toàn quốc đã là khoảng 200 tỉ đồng. Cả nước năm nay có 910.831 thí sinh dự thi. Định mức chi mỗi địa phương có thể khác nhau nhưng chênh lệch chắc chắn không lớn. Lấy riêng Hà Nội làm ví dụ. Kinh phí trung bình cho một sĩ tử gần 300.000 đồng, vị chi kỳ thi đã ngốn khoảng 22 tỉ đồng ngân sách thủ đô”.
Mỗi thí sinh thi tốt nghiệp tiêu tốn của ngân sách 300 ngàn, tất nhiên, đây là khoản tiến tổng chi phí từ giấy thi, đề thi, giám thị… 300 ngàn nhân cho 910.831 sẽ ra con số hơn 273 tỷ một tẹo.
Lấy tỉ lệ đỗ tốt nghiệp như năm ngoái là 98%, năm nay là 99%, thì có thể hiểu rằng, nhằm loại được 1% không đủ trình độ kiến thức để tốt nghiệp phổ thông trung học, chúng ta đã tốn hàng tấn tiền.
Mấy lâu trước, anh có nghe kiến nghị nên xét điểm của niên học cuối cấp nhằm xem đó là tiêu chí tri thức để có thể xác định học sinh đủ chuẩn được cấp bằng phổ thông trung học. Nếu thực hiện được điều này, mỗi năm ngân sách của Nhà nước sẽ tiết kiệm được hàng trăm tỉ đồng và hàng chục vạn cá nhân sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí đi lại, sự bào mòn cơ thể… Đáng tiếc, kiến nghị này vẫn chưa thành hiện thực.
Anh không chắc lắm về nhận định này, nhưng anh cho rằng, người ta chấp mê bất ngộ, cố gạt bỏ hết các lựa chọn nhằm khiến mọi thứ trở nên sáng sủa hơn và kiên quyết giữ lại tư duy mù mờ cũ, thì người ta phải có lý do riêng nào đó.
Không cần Khổng Phu Tử luận, cũng không cần Lão Trang Tử bàn, ngay thể loại vô trí vô tri như anh cũng hiểu rằng, chỉ với mục đích trục lợi cá nhân thì người ta mới giữ lại những quan điểm cũ. Bất chấp, thứ quan điểm ấy đã không phù hợp với sự phát triển khách quan, sự hòa nhập chung.
2. Sau khi đậu tốt nghiệp, các sĩ tử lại xắn tay áo, kéo ống quần nhào vào một cuộc chạy đua mới mang tên Đại học. Người Trung Hoa có câu, “Bất đáo trường thành, phi hảo hán”, tức, “Chưa đến trường thành (có thể hiểu là Vạn Lý Trường Thành) không phải là hảo hán”. Hậu sinh xứ anh giờ lại nói, “Bất đáo giảng đường, phi hảo hán”, tức là không đến được giảng đường đại học thì còn gì là một đấng tu mi nam tử nữa.
Chưa bao giờ, anh thương bọn trẻ xứ anh như bây giờ. Cái tiêu chuẩn bằng cấp đã thấm vào huyết nhục của các đấng sinh thành, xong lại biến thành sức ép dành cho hậu bối.
Chính từ đây, những nhà làm quản lý giáo dục của xứ anh mới chứng tỏ được khả năng, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý còn quãng giữa nói lí nhí mãi không thành câu.
Anh sinh ra ở quê nghèo, hôm xưa chưa có ánh sáng đèn điện, chiều hôm mẹ thắp đèn dầu là cứ loay hoay ngồi đập muỗi gần chết. Tự dưng anh nhớ đến điều này, bởi tự dưng anh có cảm giác những nhà làm giáo dục của xứ anh ở thời điểm này cũng đang loay hoay như vậy.
Sĩ tử mài mòn quần ở ghế nhà trường, nhọc nhằn lắm mới đậu được đại học. Đậu được đại học lại phải trần thân bốn năm, bạc đầu mẹ cha, bạc mặt cơm bụi nhà trọ thì mới kiếm được mảnh bằng cử nhân. Kiếm được mảnh bằng cử nhân, lại yên tâm chờ… thất nghiệp.
Có cử nhân không cam tâm chịu cảnh thất nghiệp, nhất quyết phải vươn lên để kiếm tìm một cơ hội. Lại nghĩ, trót sinh ra ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông. Còn thương, mẹ già cha yếu, em thơ bé dại, cảnh nhà ở quê khốn khó trăm bề. Nên quyết chí tiếp tục vừa đi làm thêm lặt vặt, vừa xin tiền gia đình để học cao học.
Học cao học xong, cầm tấm bằng Thạc sĩ, xiết bao mừng vui làm sao kể hết. Hai tay cung kính, dâng mảnh bằng Thạc sĩ cho thân tộc, ngày mở miệng, “Mỗ ta đèn sách bao nhiêu năm, nghĩ rằng…”. Nhắm mắt, “Mỗ ta thân là Thạc sĩ như ông Nghè ông Cống ngày xưa, cho rằng…”. Sau khi mở miệng lẫn nhắm mắt, đành ngồi rung đùi làm nghề… thất nghiệp.
Bảy vạn hai nghìn cử nhân lẫn thạc sĩ thất nghiệp, có để lại ấn tượng gì cho những nhà làm giáo dục ở xứ anh không?. Anh không biết chắc lắm. Anh chỉ nghĩ đến quãng thời gian mà bảy vạn hai nghìn cử nhân lẫn thạc sĩ thất nghiệp, số tiền mà gia đình họ phải bỏ ra, anh đã choáng như khi uống một vạn bình rượu Mao Đài rồi. Anh tuyệt không còn có thể nghĩ ra gì thêm được nữa.
Thật tình là nếu chỉ thất nghiệp một vạn hay hai vạn, anh còn hồ nghi chuyện không kiếm được việc làm là do lỗi của cử nhân, của thạc sĩ. Chứ đùng phát, chơi một lần hẳn bảy vạn hai nghìn cử nhân lẫn thạc sĩ thất nghiệp thì ai mà không hoảng hốt cho được.
Biết không, cái này anh nói chắc không nhiều người vui đâu, nhưng cử nhân hay thạc sĩ càng thất nghiệp nhiều, thì “nhà trẻ dành cho người lớn” lại càng phình ra.
Nhà trẻ dành cho người lớn tức là những cử nhân, thạc sĩ không kiếm được việc làm từ chuyên môn bèn vận dụng toàn bộ mối quan hệ của mình để có được việc làm từ một cơ quan hay đơn vị nào đó theo kiểu, “Anh có đứa cháu họ xa, học giỏi cực. Chú cho anh gửi tạm vào cơ quan chú, nhé”.
Số này cũng ít thôi, nhưng rất phiền. Nói ít là bởi, không phải ai cũng may mắn có được mối quan hệ “ấn vào lập tức thành công chức ngay”.
3. Chuyện thi tốt nghiệp hay bỏ thi tốt nghiệp, dấm dẳng mãi chưa xong. Chuyện cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp, bàn hoài không lối thoát. Mọi thứ còn đang lô nhô thì Thượng thư Bộ học lại nhỡ miệng nói đùa về 34 nghìn tỷ nhẳm thúc đẩy cái sự học để chấn hưng dân trí. Chán ơi là chán.
Anh nghĩ rằng, giáo dục còn tù mù, là điều hết sức nguy hiểm cho sự phát triển của một đất nước. Muốn giáo dục thoát cảnh tù mù, không còn cách nào khác là những nhà làm giáo dục phải thật sự tạo nên một sự minh bạch.
Sự minh bạch đến từ cái tâm muốn giáo dục phát triển, chứ không đến từ sự sợ hãi quy trách nhiệm về thành tích.
Anh thấy có quan niệm rất hay của tiền nhân, mà hiện nay quan niệm này đang dần mờ nhạt (Và đối với một số người đã không còn giá trị), đó chính là việc được hậu sinh lưu danh.
Phải ý thức được rằng, không phải cứ sống cho thỏa rồi chết là hết. Chết làm sao mà hết được. Thường nhân chết, còn người thân nhắc về, còn láng giềng nhắc về, còn chủ nợ nhắc về, còn người có ân có oán nhắc về. Huống hồ quan nhân. Vì cái quan nhân làm được sẽ được dân nhắc, cái chưa làm được cũng sẽ được nhắc. Vấn đề là quan nhân có đủ ý thức để dân nhắc về theo chiều hướng hảo ý hay ác cảm mà thôi. Làm quan thì một thời thôi, cũng nên suy tính.
Cá nhân anh vẫn thường có ý niệm, không gì là muộn cả. Muộn hay không là do bản thân mình, sự quyết đoán của chính mình. Chưa bao giờ anh hồ nghi về trình độ của những nhà làm giáo dục của xứ anh. Hơn nữa, ở thời đại này thì việc chắt lọc tinh túy của người để học hỏi và áp dụng không còn là điều quá xa xôi, cách trở.
Anh vẫn tin, tri thức chính là đầu tàu để giúp xứ sở của anh phát triển. Và, chỉ có thể có một nền tri thức với những trí thức thực thụ nếu như những cá nhân được nuôi dưỡng trong môi trường giáo dục đầy khoa học, lành mạnh. Với sự học là nhận thức, chứ không phải học là thành tích, là tư lợi.
Tất nhiên, nói như một Thượng thư khác thì, đi bán hàng rong hay bán vé số cũng là nghề có thu nhập cao. Tốt nghiệp đại học hay cao học chưa có được việc làm, thì tạm bán hàng rong hay vé số, có thể là giải pháp để mưu sinh.
Thế nhưng, một quốc gia mà nhiều quá những cử nhân, thạc sĩ phải đi bán vé số hay hàng rong nhằm có thu nhập cao thì buồn lắm, buồn vô cùng.
Vậy nên anh mới bảo, vạn sự như đùa. Dẫu thật lòng, anh rất mong những chuyện đùa này mau chấm dứt