Chiều 11/9, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an) tổ chức Hội nghị khoa học quốc tế lần thứ I với 25 phiên chuyên đề, cùng sự tham gia của gần 200 chuyên gia trong nước và quốc tế.
Liệu pháp tế bào miễn dịch – hy vọng sống cho nhiều người bệnh
Chia sẻ bên lề phiên hội thảo “Cập nhật những tiến bộ mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư”, PGS.TS Phạm Cẩm Phương, Viện trưởng Viện Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai, Chủ toạ đoàn cho biết, hội nghị cập nhật những tiến bộ nổi bật trong chẩn đoán và điều trị ung thư, đặc biệt là liệu pháp điều trị trúng đích và điều trị miễn dịch.
Bên cạnh hiệu quả, các báo cáo viên tập trung phân tích những tác dụng không mong muốn và các yếu tố lâm sàng cần cân nhắc khi áp dụng phương pháp mới.
Đồng thời, cần dự báo trước nhóm bệnh nhân nào sẽ đáp ứng tốt với từng liệu pháp nhằm đạt hiệu quả điều trị tối ưu nhất với chi phí tối thiểu.
PGS.TS Phạm Cẩm Phương cũng cho biết, các phương pháp điều trị ung thư mới như liệu pháp miễn dịch hay đích cần cá thể hoá phác đồ điều trị, không áp dụng đại trà. Liệu pháp đích hay miễn dịch không mang lại hiệu quả như nhau cho tất cả mọi người mà phụ thuộc vào từng loại bệnh, nhóm bệnh, sự bộc lộ của gen, dấu ấn miễn dịch và vi môi trường khối u.
Do vậy, bác sĩ cần lựa chọn đúng bệnh nhân phù hợp, cá thể hóa điều trị, theo dõi sát sao mức độ đáp ứng để kịp thời chuyển phác đồ khác nếu bệnh nhân không đạt đáp ứng.
Đồng thời, nhận biết sớm và quản lý hiệu quả các biến cố bất lợi, kiểm soát tác dụng phụ liên quan đến liệu pháp miễn dịch.
Từ các nghiên cứu lâm sàng, GS.TS Shigenori Goto, Chủ tịch Kohshikai – SETA Clinic Tokyo (Nhật Bản) có bài phát biểu trình bày về hướng tiếp cận kết hợp liệu pháp tế bào miễn dịch với thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (ICI) nhằm nâng cao hiệu quả miễn dịch chống ung thư.
Theo GS Shigenori Goto, ICI là thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch, một loại phương pháp trị liệu miễn dịch dùng trong điều trị ung thư, hoạt động bằng cách ngăn chặn các tín hiệu ức chế miễn dịch, qua đó tạo điều kiện để tế bào T tấn công tế bào ung thư.
Tuy nhiên, theo GS Shigenori Goto, hiệu quả của thuốc phụ thuộc đáng kể vào tình trạng miễn dịch tế bào T của chính bệnh nhân — trong khi ở nhiều bệnh nhân ung thư tiến triển, chức năng miễn dịch tế bào T lại thường bị suy giảm. Đây chính là “điểm nghẽn” khiến không ít bệnh nhân không đáp ứng tốt với ICI đơn độc.
Từ cơ sở đó, nhóm nghiên cứu tại SETA Clinic Tokyo đề xuất kết hợp liệu pháp tế bào αβT — nhằm tăng cường và phục hồi tình trạng miễn dịch tế bào T — với ICI, để hai phương pháp bổ trợ lẫn nhau: Một bên tăng cường tế bào miễn dịch có khả năng chống ung thư, một bên loại bỏ tín hiệu ức chế miễn dịch.
“Hai hướng nghiên cứu lâm sàng đã mang lại hiệu quả rõ rệt”, GS Shigenori Goto bày tỏ.
GS chia sẻ, nghiên cứu thứ nhất thực hiện trên 10 bệnh nhân ung thư tiến triển hoặc tái phát, kết hợp liệu pháp αβT với nivolumab liều thấp — chỉ bằng 1/10 liều tiêu chuẩn. Nghiên cứu tập trung trước hết vào tính an toàn và không ghi nhận biến cố bất lợi nghiêm trọng nào; một số trường hợp còn cho thấy hiệu quả chống khối u đáng chú ý. Hai trường hợp ung thư thực quản trong nhóm này đã được nhóm nghiên cứu tổng hợp và công bố trong một báo cáo khoa học.
Nghiên cứu thứ hai hướng đến nhóm bệnh nhân khó điều trị hơn: Những người đã dùng ICI nhưng bệnh vẫn tiến triển. GS Shigenori Goto cho biết, do các thuốc kháng thể như pembrolizumab có thời gian bán thải dài và có thể tiếp tục tồn tại trong cơ thể sau khi ngừng thuốc, nhóm nghiên cứu đặt giả thuyết rằng dùng liệu pháp αβT trong giai đoạn này có thể tận dụng được tác dụng ức chế điểm kiểm soát miễn dịch còn sót lại.
“Nghiên cứu đang tiến hành đã tuyển 22 bệnh nhân mắc nhiều loại ung thư khác nhau; trong đó 16 bệnh nhân đã hoàn thành 6 chu kỳ điều trị αβT và được đánh giá theo tiêu chuẩn RECIST. Kết quả, 4 trường hợp đạt tình trạng bệnh ổn định (SD), tương ứng tỷ lệ kiểm soát bệnh 25% ở nhóm bệnh nhân đã kháng ICI”, vị chuyên gia nêu.
Theo GS Goto, các kết quả bước đầu cho thấy liệu pháp tế bào miễn dịch có tiềm năng trở thành một lựa chọn bổ sung cho những bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với ICI. Việc kết hợp hai hướng tiếp cận — tăng cường tế bào miễn dịch chống ung thư và loại bỏ tín hiệu ức chế miễn dịch — được kỳ vọng mở ra chiến lược mới nhằm nâng cao hiệu quả điều trị miễn dịch ung thư nói chung.
Ông cũng lưu ý rằng các kết quả hiện tại vẫn cần được tiếp tục kiểm chứng và làm rõ qua các nghiên cứu lâm sàng tiếp theo.
Theo PGS.TS Phạm Cẩm Phương, qua hội thảo giúp các đồng nghiệp trẻ hiểu rõ hơn cách chẩn đoán, lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp và kiểm soát rủi ro cho người bệnh.
Ung thư không còn là "án tử"
Chia sẻ với phóng viên tại hội thảo, TS.BS Nguyễn Thị Minh Phương, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện 19-8 cho biết, từ những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị ung thư, người dân đã có thay đổi góc nhìn về căn bệnh này.
“Hiện nay, ung thư không còn là "án tử". Nhiều loại bệnh ung thư như tuyến giáp, vú, đại tràng, dạ dày, phổi..., nếu phát hiện sớm hoàn toàn có thể điều trị triệt căn. Ung thư hiện nay được xem và quản lý tương tự một bệnh mãn tính, như đái tháo đường hay tăng huyết áp”, TS.BS Nguyễn Minh Phương nói.
Giám đốc Trung tâm Ung bướu cho biết, nhờ truyền thông và y tế phát triển, nhận thức của người dân về tầm soát bệnh đã được nâng cao rõ rệt. Các phương pháp tầm soát giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, nâng cao hiệu quả điều trị và kéo dài đáng kể thời gian sống cho người bệnh (đặc biệt với ung thư phổi có thể can thiệp phẫu thuật triệt căn).
Thay vì chỉ có hóa trị thông thường như trước đây, y học hiện đại đã áp dụng điều trị phối hợp đa mô thức trong điều trị ung thư. Hiện đã xuất hiện nhiều nhóm thuốc tiên tiến như thuốc nhắm đích, liệu pháp miễn dịch và phác đồ hóa xạ đồng thời.
“Với bệnh nhân giai đoạn sớm, việc dùng thuốc đích hoặc liệu pháp miễn dịch bổ trợ sau phẫu thuật giúp tỷ lệ sống sau 5 năm tăng vượt trội, nhiều trường hợp có thể điều trị khỏi. Ngay cả ở giai đoạn muộn, các phác đồ phối hợp mới (như thuốc đích kết hợp hóa trị/miễn dịch từ bước đầu) đã giúp cải thiện thời gian sống và duy trì đáp ứng ổn định tốt hơn nhiều so với trước”, TS.BS Nguyễn Thị Minh Phương nhận định.
Đặc biệt, sự phát triển của xét nghiệm sinh học phân tử giúp các bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị trúng đích và cá thể hóa cho từng bệnh nhân.
Theo TS.BS Nguyễn Thị Minh Phương, Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện 19-8 hiện đã cập nhật, ứng dụng đầy đủ các phác đồ điều trị ung thư tiên tiến nhất đang được phê duyệt trên thế giới.
Bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện 19-8 ngày một gia tăng và đều được tiếp cận các liệu pháp hiện đại này với kết quả rất khả quan. Rất nhiều người nhờ tầm soát đã phát hiện sớm, điều trị bệnh ổn định.
Về chương trình hợp tác điều trị miễn dịch giữa Bệnh viện 19-8 với đối tác Nhật Bản (Công ty Cổ phần Seta Việt Nam Seta), dự án đã được Bộ Y tế phê duyệt và đang trong giai đoạn chuẩn bị thí điểm tế bào T, tế bào NK và thử nghiệm lâm sàng tế bào Tua.