Như Friedrich Durrenmatt (15/1/1921 - 14/12/1990), một tác giả cự phách trong thể loại trinh thám tâm lý. Hay Max Frisch (15/5/1911 - 4/4/1991), người sinh trước Durrenmatt tới cả một thập niên và từng có giai đoạn "bảo trợ" cho người đồng nghiệp trẻ tuổi hơn mình dù rất khác nhau về quan niệm nghệ thuật và xã hội. Frisch là tác giả của tiểu thuyết lừng danh "Homo Faber" nổi tiếng thế giới và từng được dịch ra tiếng Việt. Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Frisch đã được tổ chức trọng thể trong tháng 5 vừa qua.
Max Frisch sinh ra tại Zurich trong một gia đình trung lưu mà người cha là kiến trúc sư. Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất đã khiến cho bố của nhà văn tương lai mất việc nên gia cảnh đã trở nên rất khó khăn. Có lẽ chính trong những điều kiện như thế đã khiến cậu bé Max ít tìm thấy ở người cha những tình cảm gắn bó. Bù lại, cậu đã có được những mối dây liên hệ ruột thịt rất chặt chẽ với người mẹ, bà Karolina Bettina.
Sau này, trong những lần sang Liên Xô tham quan với tư cách nhà văn, Frisch đã kể với nữ văn sĩ Marietta Shaginian, một trong những tác giả Xôviết có nhiều tác phẩm viết về Lênin nhất, ký ức tuổi thơ của mình về những lần được tận mắt nhìn thấy những người hàng xóm là Lênin và Krupskaya đi dạo trên đường phố Zurich khi ông mới ở tuổi lên 5 (trí nhớ của ông quả thực là tuyệt vời, xứng danh nhà văn lớn!).
Năng khiếu văn chương ở Max Frisch đã được bộc lộ khá sớm. Ngay khi còn ở bậc trung học, Frisch đã kết thân với một bạn đồng môn tên là Werner Coninx, con một chủ nhà xuất bản, một người có những hiểu biết rộng về văn học và triết học.
Nhờ thế, những ham muốn văn chương đã được thêm phần hun đúc ở Frisch. Và cũng ngay từ ở bậc trung học, nhà văn tương lai đã từng viết một vở kịch, có điều nó đã không được dàn dựng nên khiến tác giả trẻ này rất thất vọng và hủy bỏ nó đi…
Đầu những năm 30 của thế kỷ trước, Frisch đã vào học môn văn chương Ngữ học Đức tại Đại học Zurich. Trong giai đoạn này, nhà văn tương lai đã được gặp những giáo sư mà mình ngưỡng mộ và qua đó, có thêm nhiều mối quan hệ ở các nhà xuất bản và các tờ báo.
Càng dấn sâu vào đời thực, Frisch càng cảm thấy những kiến thức thu nhận được trong giảng đường đại học là chưa đủ để thực hiện ước mơ trở thành một nhà văn thứ thiệt. Và thế là ngay từ năm 1931, Frisch đã bắt đầu cộng tác với tờ Nhật báo Zurich mới (NZZ).
Năm 1932, sau khi người cha qua đời, Frisch lại càng tham gia vào các hoạt động báo chí nhiều hơn để có tiền tự lo cho bản thân và giúp đỡ mẹ. Những trải nghiệm trong thời gian này đã được Frisch kể lại trong tản văn Tôi là ai? (1932) và cách khai thác những chi tiết trong chính tiểu sử của mình để viết văn về sau đã trở thành một trong những thủ pháp đặc trưng của ông khi sáng tác.
Là con người đam mê và có nhiều khát vọng, ngoài việc làm báo, Frisch còn tham dự nhiều khoa học khác nhau. Nhờ sự giúp đỡ của người bạn thân Werner Coninx, năm 1936, Frisch đã có điều kiện học sâu hơn về kiến trúc. Đây cũng là một cách nối nghiệp cha. Và tới năm 1942, ông đã đoạt được giải nhất cuộc thi kiến trúc của thành phố Zurich trị giá 300 phrăng Thụy Sĩ cho dự án xây dựng bể bơi Letzigraben.
Do ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ hai nên dự án này phải tới năm 1947 mới được khởi công xây dựng và đã được khánh thành vào năm 1949. Hiện nay, bể bơi Letzigraben được chính quyền địa phương coi sóc như một di sản văn hóa quốc gia.
Tuy nhiên, văn học vẫn là niềm đam mê lớn nhất của Frisch. Ngay cả khi đang hành nghề kiến trúc, ông vẫn chỉ dành cho công việc danh giá và hiệu quả này một khoảng thời gian không lớn trong ngày vì quá say mê văn chương. Hệ lụy đã tới nhỡn tiền: sau một vài dự án ít nhiều thành công, Frisch đã phạm phải những sai lầm khá nghiêm trọng trong thiết kế dinh thự của một khách hàng quan trọng nên đã bị đưa ra tòa.
Thiên hạ đồn rằng, vì giận thân chủ nên Frisch về sau đã tạo nên một nhân vật phản diện tương tự như ông này trong vở kịch Biedermann und die Brandstifter (một trong những kịch bản tiếng Đức thành công nhất và đã được dàn dựng tới trên dưới 200 lần!). Tuy nhiên, ông vẫn phải công nhận rằng lẽ phải đã thuộc về người đã kiện ông ra tòa!
Theo những đồn đại trong giới văn học Thụy Sĩ, Frisch sở dĩ đã quay về với sáng tác văn chương là nhờ sự "thổi lửa" của hai bạn vàng: đó là thi sĩ kiêm kịch tác gia người Đức Bertolt Brecht mà ông rất sùng mộ và ông chủ nhà xuất bản Peter Suhrkamp.
Trước đó, ở cuối những năm 30, chính Frisch đã tự tay đốt đi những thử nghiệm văn xuôi đầu tiên của mình, trong đó có tiểu thuyết đầu tay mà sau này chính nhà văn cũng phải công nhận là rất có triển vọng Jurg Reinhart. Trong cuốn tiểu thuyết này cũng như ở những tác phẩm về sau của Frisch, nhân vật chính ở mức độ cao là "bản ngã vốn sẵn" (alter ego) của chính nhà văn. Trên hành trình tìm kiếm chỗ đứng của mình trong cuộc sống, Jurg đã làm một việc mà không phải bất cứ ai cũng dám làm: giúp cho cô con gái của chủ nhà trọ mà anh tá túc rời bỏ cuộc sống này.
Không rõ trong đời thực của Frisch có chuyện gì đó tương tự như thế xảy ra không nhưng thi sĩ kiêm kịch tác gia Brecht qua đấy đã nhìn thấy trong chàng trai hâm mộ mình một tiềm năng cực lớn.
Người ta kể rằng, Brecht đã đứng lên cái chòi cao mười mét ở khu bể bơi do chính Frisch thiết kế và từ đỉnh cao danh vọng của mình đã quyết định hướng chàng kiến trúc sư vẫn đang ấp ủ ước mơ trở thành nhà văn rẽ ngoặt hẳn lối sang nghề viết. Chính Brecht cũng là người đã luôn nhắc nhở Frisch về trách nhiệm của những người làm công tác văn học nghệ thuật…
Tuy nhiên, dù rất kính trọng Brecht, Frisch trong văn học vẫn giữ được chỗ đứng và quan niệm riêng của mình về các vấn đề nhân sinh. Trọng tâm trong sáng tác của Frish thường là những mâu thuẫn và những tranh biện với chính bản thân trước những vấn đề điển hình của thời đại: sự tìm kiếm và khẳng định vai trò cá nhân độc nhất vô nhị, xác định đường đời, các vai trò của giới, mâu thuẫn giới và những biện pháp giải quyết chúng, cũng như chuyện liệu có những gì có thể thể hiện bằng ngôn ngữ…
Các nhân vật nam trong các tác phẩm của Frisch mang tính các đặc trưng cho người trí thức đồng thời với nhà văn: vị kỷ, thiếu cương quyết, không tự tin và không ý thức được tình huống thực tế mà mình đang sống. Họ thường theo thuyết bất khả tri và trong quan hệ với những người khác thì kém dâng hiến nên hay phải sống trong cảnh bắt buộc cô đơn.
Khi ở họ nảy nở và phát triển cảm giác sâu sắc đối với phụ nữ, họ đánh mất sự cân bằng cảm xúc và che giấu sự yếu kém về sắc giới bằng một chủ nghĩa sôvanh hình thức. Quan hệ với phụ nữ của họ thường bị ám ảnh bởi cảm giác tội lỗi. Họ cố gắng tìm kiếm trong quan hệ với phụ nữ một cuộc sống đích thực, thoát khỏi những xung đột và sự nhàm chán vô cùng tận để tới với những mới mẻ đa màu sắc…
Bản thân Fisch trong đời thực cũng đã phải trải qua không chỉ một cuộc hôn nhân và rất nhiều câu chuyện tình… Ông quá trung thực trong quan hệ với phụ nữ nên khó có thể trụ lâu lại được với ai…
Frisch đã phải làm việc rất nhiều trên hành trình theo đuổi niềm vinh quang to lớn mau đến và luôn đau đáu chờ đợi giải Nobel văn chương. Từ cuối những năm 50 của thế kỷ trước, ông đã trở thành một trong những gương mặt nổi trội nhất của dòng văn học Đức.
Và không chỉ thế. Các tác phẩm Homo Faber (1957) và Tôi tên là Gantenbein (1964) đã tạo cho ông niềm vinh quang toàn cầu to lớn. Homo Faber kể về một kỹ sư không làm chủ được cuộc sống thực tế vì thế giới quan hoàn toàn máy móc thuần lý của mình.
Tiểu thuyết này đã được dịch ra hơn 40 thứ tiếng (trong đó có tiếng Việt) và được xếp vào tủ sách giáo khoa học đường ở nhiều nước hệ Đức ngữ. Tới năm 1998, chỉ tính riêng ở tiếng Đức đã có tới bốn triệu bản Homo Faber được bán hết…
Frisch qua đời ngày 4/4/1991, khi vẫn đang chuẩn bị cho lễ mừng sinh nhật lần thứ 80. Đám tang của ông diễn ra ngày 9/4/1991 tại nhà thờ St. Peter ở Zurich. Hai người bạn Peter Bichsel và Michel Seigner đã đọc điếu văn trong lễ truy điệu. Không có mục sư đứng ra làm chủ lễ như thông thường bởi lẽ, cũng là một người theo thuyết bất khả tri như các nhân vật của mình, Frisch đã không đặt nặng vấn đề tín ngưỡng trong cuộc sống.