Những ai từng sống qua giai đoạn Việt Nam gần gũi với Liên Xô và các nước Đông Âu một thuở chắc còn nhớ câu chuyện tiếu lâm Liên Xô đại khái như thế này: Ông là cựu chiến binh ngồi kể lại chuyện chiến đấu cho cháu nghe, ông kể về những trận đánh, những nỗi hiểm nguy vào sinh ra tử, kể về những người đồng đội đã hy sinh. Đứa cháu say mê ngồi nghe, ngây ngất với câu chuyện rồi vuốt râu ông hỏi: “Ông ơi, thế sao ông chưa chết?”.
Tôi cũng từng hỏi câu hỏi y như vậy khi còn là một đứa trẻ, tất nhiên cũng là thời Việt Nam còn rất gần gũi với Liên Xô và các nước Đông Âu. Ông nội tôi có ba anh em trai, ông là anh cả. Quý tộc thời xưa ở châu Âu thì có một tập tục phân chia rõ, các con trai người thì theo nghề võ, người thì vào trường dòng để trở thành linh mục, còn theo đúng lệ của các gia đình nông thôn Việt Nam xưa kia, người anh cả ở nhà lo chăm sóc bố mẹ già, thờ phụng hương hỏa tổ tiên, vì vậy ông tôi không đi bộ đội chuyên nghiệp. Hai người em trai của ông nội tôi vào những năm đầu 80 đều là chỉ huy quân đội. Mỗi lần các ông có việc ghé qua Hà Nội đều nghỉ lại ở nhà tôi, hai ông, ông nào cũng có súng đeo ở bụng, ăn to nói lớn, ngủ ngáy như sấm. Hồi đó tôi thích được các ông vác trên vai bế đi khắp xóm trong sự ngưỡng mộ của trẻ con hàng xóm. Một thời, có người nhà trong quân ngũ là chuyện bình thường, nhưng đồng thời cũng là một niềm hãnh diện không nhỏ.
Nhà tôi hiện giờ vẫn còn giữ được bức ảnh ba ông. Ông nội tôi ở giữa, hai ông trẻ ở hai bên, ông nội tôi mặc áo sơ mi bình thường, còn hai ông mặc áo lính, vai đeo quân hàm, huy chương đầy ngực. Thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ về bức ảnh đó. Ông tôi không ra trận nhưng mất sớm nhất trong ba người ở trong bức ảnh ấy, vì bệnh ung thư. Hai người anh em của ông đều sống rất thọ, một người em của ông mới vừa mất năm ngoái và là người cuối cùng còn sống trong bức ảnh.
Một thế hệ đã đi qua, chỉ còn lại một bức ảnh.
Trở lại với câu hỏi của con bé con là tôi với hai người ông đi chiến trận, “Ông ơi thế sao ông chưa chết?” (Bởi vì hình như những câu chuyện tiếu lâm nghe qua thì có vẻ vớ vẩn nhưng lại rất thường “can ke” rất kỹ lưỡng và chi tiết cuộc đời thực). Nghe câu hỏi ấy, một người ông thì cười ha hả búng vào tai tôi một cái rõ đau (tôi ghét bị búng tai khi còn nhỏ, giờ vẫn ghét). Người ông còn lại thì nói đại ý ai chẳng phải chết, chưa chết là vì chưa được chết mà thôi, đâu có chuyện gì mà to tát. Ông nội tôi thì hay mắng tôi mỗi khi tôi hỏi như vậy. Theo ông nói với người lính về cái chết là một điềm gở. Đó là tâm lý của người ở nhà, người ở hậu phương. Sự hiểm nghèo tạo ra khác biệt rất lớn: trước sống và chết, những người “vào sinh ra tử chuyên nghiệp” có cách nhìn nhận và cách nghĩ hoàn toàn khác với những người không giống như họ. Sự hiểm nghèo vừa là một dạng thước đo con người, lại vừa là một cách để phân chia - nghiệt ngã nhưng là như vậy.
Đó là những gì tôi biết về chiến tranh và sống chết ngoài những bộ phim Nga (Khi đàn sếu bay qua, Matxcơva không tin vào những giọt nước mắt… mà hiện nay chỉ một lớp người còn nhớ, nhưng những ai còn nhớ thì sẽ nhớ rất chi tiết, bởi chúng quá mức ấn tượng, vào cái thời phim ảnh còn là một thứ đặc biệt xa xỉ) và các tiểu thuyết của Nga thì Chiến tranh và hòa bình của Tolstoy và Sông Đông êm đềm của Solokhov, của Mỹ thì Cuốn theo chiều gió của Margaret Mitchell... Tôi ghét Tam quốc chí vì khi tôi đọc bộ sách ấy từ khi còn nhỏ, ấn tượng mà tôi thu nhận được là số phận một nhân vật xuất hiện quá ngắn, quá ngắn so với cái hình dung của người đọc về quãng thời gian xuyên suốt của cả tác phẩm. Lã Bố đã làm gì ngoài “hí Điêu Thuyền” và giết Đổng Trác để rồi rốt cuộc cũng chết thảm? Cả đến Tào Tháo cũng có một cuộc đời quá nhiều lỗ hổng khôn dò. Tôi không thấy thỏa mãn, tôi thấy thời gian ở bộ truyện ấy không ở trong cùng cách hình dung về thời gian với tôi, cả về không gian cũng vậy, không giống một chút nào. Cũng vì còn nhỏ, nên chắc tôi nghĩ cuộc đời phải dài hơn thế nhiều, làm sao mà chịu nổi khi có những nhân vật cả đời chỉ biết đánh nhau, ai cũng cần phải nghỉ ngơi, tôi thấy không công bằng cho các nhân vật trong Tam quốc chí vì họ ít được nghỉ ngơi quá. Mạng người như hạt cát, đời người như cơn gió thoảng, chiến tranh trận mạc chỉ vì ý chí chủ quan của vài ba ông ngồi trong lều uống rượu (mà uống rượu xong rồi các ông ấy lại còn hay làm thơ, thỉnh thoảng thơ hay còn thường thì thơ dở). Thật vô lý. Cái lý của điều đó mãi rất lâu về sau này tôi mới bắt đầu lờ mờ nhận ra, khi đã có nhiều trải nghiệm cuộc đời hơn. Nhưng, có nhận ra đi nữa thì tôi vẫn không hoàn toàn chấp nhận được. Văn chương làm cuộc đời con người rút ngắn lại là văn chương kiểu gì? Tại sao không hào phóng làm cuộc đời dài hơn thêm, và cùng với đó là phong phú hơn so với đời thực? Có những câu hỏi đối với tôi mãi mãi không thể trả lời, có lớn đến đâu, có thêm nhiều tự tin về sự từng trải đến đâu, thì cũng không thay đổi được gì.
Sau này, tôi có một anh bạn làm Tổng giám đốc cho một hãng của Đức. Anh là người Hà Nội, 18 tuổi vừa đỗ Đại học Bách khoa thì xung phong ra trận, rất giống nhiều người thanh niên một thuở, hay nói đúng hơn là giống vô vàn người thanh niên trong suốt lịch sử Việt Nam, một lịch sử chỉ đặc biệt với các giai đoạn hòa bình. Anh được đào tạo tập huấn vài tháng rồi vào ngay chiến trường. Trận đầu tiên còn chưa biết mô tê gì thì anh tỉnh dậy nhận ra mình đang trần truồng nằm giữa một đống người chết cũng trần truồng dưới một cái hố. (Xin lỗi vì tôi không biết kể chuyện đánh nhau một cách hấp dẫn, nên chỉ điểm lại những gì tôi thấy ấn tượng, mà vẫn chắc chắn rằng phải có những điều khác ấn tượng hơn, hấp dẫn hơn mà tôi đã không đủ sức nắm bắt hay nhớ được). Anh vùng dậy trèo lên khỏi miệng hố chạy một mạch vài ngày đêm xuyên rừng rồi lại ngất đi. Lúc tỉnh dậy lần tiếp theo anh thấy mình đang trên xe đưa ra Bắc. Anh về hậu phương chữa trị và được gửi ngay đi Cộng hòa Dân chủ Đức học cũng trong năm ấy. Chiến tranh đã thực sự đổ ập xuống anh, theo mọi nghĩa của từ “đổ ập” đầy bất ngờ và hung hiểm này. Giờ anh vẫn còn một viên đạn nằm trong đầu, ở ngay sau gáy nhô ra một cục bằng cái hạt mơ. Anh đi xe BMW, nói tiếng Anh, tiếng Đức như nhau, tôn sùng người Đức và tính kỷ luật của họ. Có lần tôi hỏi anh cũng câu hỏi tại sao hồi đó anh lại không chết (nhưng cách hỏi của tôi khéo léo hơn hồi còn bé, tất nhiên). Anh vạch cái viên đạn nhô ra sau gáy cho tôi sờ vào và bảo, “Nó có thể chạy lung tung và làm nát óc anh bất cứ lúc nào”. Rồi anh nói tiếp, “Anh chưa chết ngay lúc đó vì anh may mắn hơn được chuẩn bị cho cái chết cẩn thận hơn. Ai chẳng phải chết. Viên đạn trong đầu anh nhắc nhở anh điều đó”.
Ấn tượng của tôi về chiến tranh, về người lính suốt bao năm qua chỉ là những cái nhìn vụn vặt như vậy và luôn luôn là một câu hỏi: Những người còn sống sót là vì sao? Tại sao viên đạn hay mảnh pháo có thể giết chết người này mà không phải là người khác? Với tất cả những người còn sống, câu trả lời duy nhất đó là vì may mắn. Chẳng có chút nào hân hoan hay tự hào nào ở họ cả, một chút xíu cũng không. Tôi dám chắc tất cả họ đã hơn một lần nghĩ rằng cái đặc ân được sống đó đối với họ là một gánh nặng. Và cũng vì gánh nặng ấy mà các “gánh nặng làm người” khác đối với họ nhẹ nhàng hơn rất nhiều thì phải? Tôi nghĩ vậy