Nhà thơ Tô Ngọc Thạch có thời gian dài sống, học tập và làm việc tại Liên Xô (cũ), nhưng có lẽ ít ai như anh, về nước đã lâu mà vẫn giữ được mối quan hệ thân thiết không chỉ với bạn bè người Việt hiện bên đó, mà cả những người bạn thời Liên Xô cũ. Thế nên năm ngoái, NXB Thế giới đã ấn hành tập thơ song ngữ Nga - Việt "Nắng bạch dương", gồm 54 bài của 17 nhà thơ Nga từ Pushkin, Lermontop, Tyuchev đến những người hiện đang chiếm lĩnh thi đàn Nga như Dinoviev, Korgiov, Baimunduzova... do nhà thơ Tô Ngọc Thạch chuyển ngữ từ tiếng Nga sang tiếng Việt. Còn lần này, tập "Công chứng thời gian" cũng là thơ song ngữ, với 27 bài thơ của nhà thơ Tô Ngọc Thạch được dịch giả Thiếu Khanh chuyển ngữ sang tiếng Anh, với thiết kế bìa khá đẹp và sang trọng của Anatolia Vodoleev - họa sĩ người Nga, bạn của Tô Thạch Ngọc.
Đây là tập thơ thứ 6 của Tô Ngọc Thạch. Tập thơ gồm 27 bài, được chia làm hai phần và mỗi phần được đặt tên riêng. Phần đầu là "Dấu ấn xứ người", gồm 10 bài thơ anh viết về những nơi mình có dịp đi qua, như "Phố Bắc Kinh" (ở Quảng Châu), "Một phản biện về Nữ thần Tự Do" (ở Hoa Kỳ), "Bến mơ thiên niên kỷ" (ở Pháp - Anh), hoặc đã từng sống và làm việc nay có dịp trở lại như "Xibia đồng hành" (Nga)…
Nhìn chung phần này viết phóng khoáng và kết hợp khá nhuyễn lối bày tỏ cảm xúc với chiêm nghiệm, liên tưởng giữa cái "gặp", cái "thấy" trong cuộc sống với ý thức chiêm ngưỡng, thưởng thức. Chẳng hạn, khi đến phố Bắc Kinh ở Quảng Châu (Trung Quốc), nhà thơ cảm nghĩ: "Con phố cũ càng nằm duỗi giữa nội đô/ Hồn giấu sâu vào thịt da từng thớ đất". Và, anh cũng thấy cái nhỡn tiền trên đường phố được mệnh danh "cổ kính" này: "Đá lát đường vẹt mòn theo muôn vạn gót chân/ Phiêu bạt bao mảnh đời cuộn vào hồn phố". Còn đây là hình ảnh Nữ Thần Tự Do ở New York, Hoa Kỳ: "Sóng khật khưỡng xô đổ bóng mình thời xa vắng/ Sau mười một tháng chín/ Nữ Thần buồn/ Hành khách mất tự do?".
Phần hai của tập thơ có tiêu đề "Hồn chữ", gồm 17 bài (chiếm gần hai phần ba số bài trong tập), nhà thơ như trầm lắng, suy tư và chắt lọc hơn. Đọc hết phần 2, và những bài thơ sáng tác gần đây của nhà thơ Tô Ngọc Thạch, ta thấy tác giả ngày càng có thiên hướng làm sao thơ ngày càng gần hơn với văn hóa dân tộc, giản dị, khúc triết và chân thực, nhưng lại đậm chất trữ tình, trí tuệ. Đây là mấy câu trong bài "Cánh diều mùa xuân": "Tôi phất hồn mình thành cánh diều mùa xuân thả vào bầu trời thơ ấu/ Hương lúa thơm lừng lựng góc trời quê/ Hạt thóc đớn đau cõng bao mưa nắng tái tê/ Mẹ tãi nhọc nhằn ra phơi trong những ngày giông gió/ Lật tìm bóng mình dưới sá cày sấp ngửa/ Gói lại bóng đêm cho ban mai duỗi dài vào cánh đồng tít tắp cuối hoàng hôn…/ Xâu từng vạt nắng thành chuỗi sáng giấc mơ mùa thu hoạch/ Sáo diều ngân vang rồi đọng xuống mắt ai như giọt mật/ Mẹ gồng mình nâng cả vòm trời cho diều cất cánh vươn xa". Ở bài "Giọng văn" viết về Nguyên Hồng, Tô Ngọc Thạch đã có những câu thơ đầy suy tư, trải nghiệm: "Từng con chữ quặn đau như đang trong cơn thoát xác.../ Dòng cảm xúc như máu chảy ra từ ngòi bút/ Có ánh sáng ở trong nước mắt giọng văn như khẩu ngữ riêng mang hồn cốt Hải Phòng".
Điều sau cùng tôi muốn nói, dường như nhà thơ Tô Ngọc Thạch không hài lòng với cách nói, lối dùng từ ngữ một cách thông thường, đúng như trong bài "Cho cảm xúc quay về" anh đã viết: "Xiêu vẹo ngổn ngang bao xác chữ vô hồn", mà muốn kiếm tìm cách nói, câu chữ mới lạ hoặc ít ra cũng không quá quen thuộc. Đọc mấy câu trích dẫn trên, người đọc phần nào đã nhận ra, nhưng chúng tôi vẫn muốn dẫn thêm đôi câu nữa để người đọc thấy rõ hơn. Chẳng hạn những câu như: "Chiết khấu linh hồn tăng phần trăm thể xác", "Trời nhả lửa vào miền quê êm ả", "Mỗi trận mưa như trời tra hạt/ Ủ ngày xanh mở mắt, bật mầm", "Cầm lời hẹn cấy vào cánh đồng im ắng"...v.v... Thông thường, người ta hay nói nắng như trời đổ lửa, chứ không mấy người nói"nhả lửa", cũng thế, khi làm diều thì nói phất hồ lên tấm giấy, chứ không mấy ai nói "phất hồn", nhưng khi nhà thơ viết "phất hồn mình thành cánh diều" thì không chỉ lạ mà còn làm sang câu thơ và gợi liên tưởng mạnh trong người đọc