Người coi thư viện như thánh đường

Không được qua chuyên môn tại một trong những trường nghiệp vụ thư viện danh tiếng nào ở trong nước hay quốc tê, mà chỉ là một trường hợp tay ngang bước vào ngành thư viện một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, nhưng như là số mệnh, để rồi ông Đỗ Hữu Dư "đóng đinh" suốt cuộc đời với nó...

Trong ngành thư viện Việt Nam khoảng 50 năm trở lại đây, hẳn không ai không biết đến cái tên Đỗ Hữu Dư. Trong Tạp chí Thư viện số đặc biệt do Thư viện Quốc gia xuất bản nhân kỉ niệm 90 năm thành lập vào năm 2007, phần cảm tưởng, suy nghĩ của những người từng công tác lâu năm tại Thư viện Quốc gia, có tất cả năm bài thì thấy tới bốn bài nhắc đến tên tuổi này. Một bài là của vị nguyên phó giám đốc, còn ba bài còn lại là của ba vị nguyên là trưởng các phòng nghiệp vụ. Có lẽ hiếm ai trong ngành có được niềm vui đó. Gần đây tôi có dịp gặp chị Nguyễn Thị Xuân, nguyên Phó Giám đốc Thư viện thành phố Đà Nẵng, nay cũng đã nghỉ hưu, chị nhắc đến ông Dư như nói về một người thầy, với lòng kính trọng. Chị bảo, "ông Dư là người đã giúp tôi tìm thấy cái cao quí của sách và nghề thư viện".

Không được qua chuyên môn tại một trong những trường nghiệp vụ thư viện danh tiếng nào ở trong nước hay quốc tê, mà chỉ là một trường hợp tay ngang bước vào ngành thư viện một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, nhưng như là số mệnh, để rồi ông Đỗ  Hữu Dư "đóng đinh" suốt cuộc đời với nó.

Năm 1955, chàng học sinh Hà Nội Đỗ Hữu Dư ở tuổi 19, được nhận vào học tại trường có tên Đại học nhân dân, một tên trường khá xa lạ với những người hôm nay nhưng vốn là lớp học chính trị dành cho học sinh và trí thức Hà nội sau ngày giải phóng Thủ đô 1954. Ra trường, đang lúc đứng giữa ngã ba thì ông được cán bộ tổ chức của Bộ Văn hoá đến tuyển. Đọc lí lịch thấy Đỗ Hữu Dư biết Pháp văn và Anh văn, thế là họ xin tiếp nhận và đưa ông về công tác tại Thư viện Quốc gia, lúc này đang thiếu người giỏi ngoại ngữ. Mà ở ngành thư viện thì cần người biết ngoại ngữ.

Như tất cả các viên chức mới, những ngày đầu Đỗ Hữu Dư cũng đã phải kinh qua các công việc đơn giản như lao động khuân vác, vệ sinh lao động, phụ đứng cho độc giả mượn sách báo… Bất cứ công việc nào được phân công, ông đều làm một cách say mê, trách nhiệm. May mắn, thời gian này có một chuyên gia người Liên Xô, ông Xêrốp, sang giúp mở một lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thư viện cho những cán bộ mới, Đỗ Hữu Dư cùng nhiều cán bộ của Thư viện Quốc gia nhờ đó mới được tham gia học những bài học đầu tiên về nghiệp vụ thư viện, nhưng với tư cách dự thính. Dù sao cũng qua đó, ông mới được trang bị những hiểu biết cơ bản về công việc của nghề thư viện. Tưởng thư viện là đơn giản chỉ có việc cho mượn sách, báo, nhưng hoá không phải vậy. Sau đó, ông tiếp tục được làm quen với nhiều công đoạn khác như biên mục, phân loại, tổ chức bộ máy tra cứu và hợp tác quốc tế. Mãi nhiều năm sau này ông mới có điều kiện theo học lớp đại học thư viện tại chức (khoá 1969-1974) của trường bồi dưỡng cán bộ của Bộ Văn hoá.

Ông Đỗ Hữu Dư.

Ông Đỗ Hữu Dư.

Những người cùng công tác một thời có nhận xét, dù chân ướt chân ráo bước chân vào nghề, tuy không phải từ một trường chính qui về thư viện, nhưng ông Đỗ Hữu Dư với tình yêu với sách, báo và nghề thư viện nên đã rất nhanh chóng có được nhận biết công việc, rồi sau đó đã trở thành chuyên gia về một số lĩnh vực của ngành, đặc biệt trong khâu biên mục và phân loại. Trong nghề thư viện, đây là những lĩnh vực đòi hỏi có khả năng nghiên cứu sâu. Ông là người đã có đóng góp đáng kể trong việc xây dựng các hệ thống phân loại của thư viện quốc gia cũng như của nhiều thư viện các tỉnh, thành phố trên toàn quốc.

Nếu có một ai đó am hiểu tường tận hầu khắp các công đoạn của một thư viện cấp quốc gia, vận dụng nó một cách khoa học, hiệu quả vào thực tiễn thì một trong số đó là ông Đỗ Hữu Dư. Trong bộ Từ điển bách khoa Việt Nam khi xuất bản thì tất cả các mục từ nói về thư viện học hầu như đều do ông biên soạn, được Ban biên tập nhận xét là súc tích và cập nhật.

Thế mạnh của Đỗ Hữu Dư là ngoại ngữ. Vốn là học sinh Hà Nội những tháng ngày thực dân Pháp chiếm đóng nên trong chương trình học, ngoài học tiếng Việt, ông phải học đan xen tiếng Pháp và tiếng Anh, sau đó ông còn theo học thêm tại các lớp ngoại ngữ tư thục nên ông khá vững hai ngoại ngữ này. Nhưng khi làm việc tại Thư viện Quốc gia giúp ông dần nhận ra, chừng đó là chưa đủ vì thời gian này quan hệ giữa nước ta và hai nước Liên Xô cũng như Trung Quốc được mở rộng, sách báo tiếng Trung và Nga được bổ sung rất nhiều tại thư viện chưa được khai thác hết nên ông thấy cần phải học thêm. Một trong những người đã giúp ông học tiếng Trung chính là ông Nguyễn Thế Đức, vị Giám đốc Thư viện Quốc gia lúc này, người từng có thời gian dài theo học tại Trung Quốc.

Thấy ông Dư ham hiểu biết, thực sự cầu thị nên dù không rộng rãi thời gian lắm nhưng ông Đức vẫn hết sức nhiệt tình giúp đỡ. "Thầy" và "trò" đã "dạy" và "học" ngay trên các ghế đá ngoài vườn hoa của thư viện vào các buổi trưa khi mọi cán bộ khác đã đi nghỉ. Riêng tiếng Nga, ông Đỗ Hữu Dư đã phải bỏ ra hơn hai năm vừa làm việc vừa tự học, từ lúc bập bõm cho đến khi đọc và dịch thông thạo. Tiếng Pháp thành thục còn giúp ông sau này vượt qua nhiều thí sinh khác để được sang Pháp thực tập một thời gian, những năm 1983-1984.

Theo chỉ đạo của lãnh đạo, Đỗ Hữu Dư cùng một vài cán bộ có ngoại ngữ giỏi trong cơ quan đã chọn dịch nhiều tài liệu và sách thông tin nghiệp vụ cần thiết từ các nước ra tiếng Việt để giúp đồng nghiệp cùng nghiên cứu. Đáng chú ý, trong những cuốn sách được ông chọn dịch đó có những cuốn sách rất cần thiết  mà mãi nhiều năm sau này các thư viện ở nước ta mới nhận thức và áp dụng, như cuốn: "Kinh tế và tổ chức công tác thư viện" hay "Thư viện nông thôn"… Khi ông về công tác ở Vụ Thư viện, ngoại ngữ và chuyên môn giúp ông có điều kiện chủ động trực tiếp liên hệ, đề xuất và  tham gia vào các dự án, các chương trình được các chuyên gia và các tổ chức quốc tế sang hỗ trợ, giúp đỡ.

Năm 1979, ông được cử tham gia đoàn chuyên gia văn hoá Việt Nam sang giúp đỡ nước bạn Campuchia mới giải phóng. Nhiệm vụ của ông là giúp đỡ bạn sớm mở cửa lại được thư viện hoàng gia của bạn đã bị đóng cửa trong nhiều năm thời kì Pôn Pốt. Sự hiểu biết chuyên môn và nhất là ngoại ngữ giúp ông làm việc một cách thuận lợi. Đây là đất nước mà trước đó phần lớn cán bộ thư viện nước bạn đã được đào tạo tại Pháp và Mỹ, trong thư viện có rất nhiều sách và tài liệu ngôn ngữ của hai quốc gia này. Hơn nữa, tinh thần trách nhiệm của ông trong thời gian ở nước bạn đã giúp bạn vượt qua nhiều khó khăn để nhanh chóng mở lại thư viện phục vụ nhân dân.

Đỗ Hữu Dư cũng đã trực tiếp biên soạn nhiều tài liệu nghiệp vụ và đã cho xuất bản một số sách nói về thư viện, như: "Sổ tay công tác thư viện thiếu nhi", "Sách báo, thư viện trong các nhà văn hoá - câu lạc bộ", "Sách, bạn đọc, thư viện và người cán bộ thư viện", "Thư viện, xuất bản và phát hành sách"… Đáng nói, ông không phức tạp hoá công việc, không máy móc dựa vào các giáo trình một cách nặng nề, khô cứng,  mà đã phổ cập những kiến thức nghiệp vụ qua cách trình bày rất dễ hiểu, đã biết lấy những thí dụ, những chuyện thực tế xảy ra nơi này nơi khác để dẫn chứng, giúp những cán bộ thư viện dù cho là người mới vào nghề, có thể dễ dàng hiểu và nắm bắt công việc một cách thuận lợi. Đó cũng chính là một trong những lí do mà ông luôn được mời về các địa phương để giảng dạy và nói chuyện nghiệp vụ tại nhiều trường lớp thư viện.

Có nhiều người trong ngành nhận xét ông Đỗ Hữu Dư là một nghệ sĩ. Ông yêu văn chương, lại biết viết kịch, đóng các vai kịch và còn trực tiếp đứng ra dàn dựng nhiều tiết mục văn nghệ nói về ngành cho cán bộ trong cơ quan để tham gia các hội thi, hội diễn. Ông còn làm thơ và có một bài viết về nghề thư viện được chọn in trong tập "Những vần thơ về thư viện", được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành cùng những nhà thơ tên tuổi như Vũ Quần Phương, Bút Ngữ, Nguyễn Thái Vận, Xuân Quỳnh, Xuân Sách v.v… Trong bài thơ ông viết ca ngợi ngành thư viện có đoạn: "Tôi đi mãi trong kho dài vô tận/ Mê say nhìn ngàn vạn công trình/ Gieo tri thức hẹn gặp mùa quả ngọt/ Trên đất màu - thư viện mãi tái sinh…".

Những ấn tượng tốt đẹp của đồng nghiệp về ông cũng một phần từ những hoạt động văn nghệ đáng nhớ đó. Nhưng còn những lí do khác. Ấy là khi ông về giữ cương vị Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Thư viện, Bộ Văn hoá, công việc thường xuyên khiến ông luôn phải đi về các địa phương kiểm tra, xem xét công việc. Vì để chu đáo đón tiếp ông - với tư cách là người lãnh đạo ngành nên địa phương thường bố trí bàn ghế nước nôi, chuẩn bị văn bản báo cáo rất trịnh trọng. Vậy nhưng nhiều khi đến giờ làm việc thì không thấy ông. Mọi người bủa đi tìm thì hoá ra khi ấy ông đang mải mê hướng dẫn một vài cán bộ nghiệp vụ nào đó nắm bắt công việc ngay tại chỗ làm việc của họ. Tính tình xuề xoà, tác phong giản dị, không cầu kì câu nệ cấp trên cấp dưới, nhiều tuổi hay còn trẻ nên ông thường gần gũi, chan hoà với cán bộ ở những nơi ông đến.

Có lần, trong chuyến cùng đi công tác với ông, ông đã tâm sự với tôi: "Thư viện luôn là người bạn chung thuỷ mà mình đã dành hết tâm sức cho nó suốt cuộc đời. Với mình, sách và thư viện ví như một thánh đường, mà sống với nó, trí tuệ luôn được khai mở, còn tâm hồn thì hoàn toàn bình yên, thanh thản"

Huy Thắng

Các tin khác

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Tin vui cho những nghệ sĩ âm nhạc dân tộc Việt Nam là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt đề án xây dựng Dàn nhạc Dân tộc Quốc gia Việt Nam vào ngày 22/4/2026 với quyết tâm triển khai ngay trong năm nay và dự kiến tổng kết vào năm 2031. Đây là một quyết định đúng đắn (dù hơi muộn) và cho thấy rõ chủ trương đầu tư cho phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện tại.

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đẩy mạnh việc quảng bá, giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu thuộc các loại hình ca múa nhạc, kịch nói, cải lương, hát bội, xiếc, múa rối.

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Nỗi sợ lớn nhất của tôi là gì? Là không gì cả. Phần lớn thời gian của tôi được dành để nỗ lực chứng minh rằng mình đáng được nhớ đến. Làm việc chăm chỉ hơn, mơ lớn hơn, nói “có” với những cơ hội - kể cả khi chúng vắt kiệt mình.

Kiến tạo văn hóa số

Kiến tạo văn hóa số

Người viết cho rằng: AI tạo sinh có thể cắt ghép, được dựng nên những hiện thực chưa từng có theo ý muốn của chúng ta. Giờ đây, thay vì nheo mặt để nhận diện tem mác, dấu hiệu hàng fake trên hàng hóa thì đến lúc đắn đo trước những tác phẩm: Liệu bài thơ này, bản nhạc kia, bức tranh nọ... có dấu hiệu can thiệp của AI hay không? Chúng ta sống với AI hay chúng ta sống bằng AI? Một câu hỏi khó trả lời.

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Trong tháng 3/2026 vừa qua, số lượng các bản ghi âm bị từ chối phát hành qua nền tảng Tunecore của Công ty Believe đột nhiên tăng vọt. Và, tất cả những bản phát hành bị từ chối ấy đều có một điểm chung: đó là những bản nhạc được tạo ra bởi AI.

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân đã thành công tốt đẹp vào ngày 17/4, song báo chí trong và ngoài nước vẫn tiếp tục có nhiều bài viết đặc sắc, khẳng định quan hệ truyền thống gắn bó mật thiết giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc cũng như tầm nhìn, định hướng trong việc nâng tầm kết nối chiến lược giai đoạn phát triển mới.

Mệnh lệnh của niềm tin

Mệnh lệnh của niềm tin

Hôm nay, cũng như mọi ngày, tôi dậy rất sớm, ngồi bên ly cà phê và lướt nhanh trên màn hình smartphone. Có lẽ, giờ này nhiều người cũng giống tôi tìm sự khởi đầu cho ngày mới bằng việc nhật tin tức sau một đêm - nguồn năng lượng mới từ sự trong trẻo tinh khôi của thiên nhiên và sự hào hứng của tinh thần.

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Tin vui cho giới làm phim Việt là tính đến trưa 10/4, theo thống kê của Box Office Vietnam (BOVN - trang web độc lập chuyên tổng hợp, phân tích và thống kê dữ liệu doanh thu phòng vé, số lượng vé và suất chiếu trên toàn lãnh thổ Việt Nam), phim "Hẹn em ngày nhật thực" của đạo diễn Lê Thiện Viễn đã thu về hơn 81 tỉ đồng sau khi bắt đầu công chiếu từ cuối tháng 3 và vẫn đang giữ vững vị trí đầu bảng xếp hạng doanh thu phòng vé Việt (tính theo ngày).

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Chuyện ồn ào trên mạng xã hội liên quan đến nữ ca sĩ Thiện Nhân và gia đình của cô chắc chắn là một chuyện không vui chút nào, đặc biệt là khi soi chiếu bằng các giá trị văn hóa Á Đông vốn coi trọng nền tảng tình cảm gia đình, quyến thuộc hơn là tài sản.

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

Gần đây trong tiếng Việt có từ mới “GATO” nhanh chóng trở nên phổ biến. Viết tắt của “ghen ăn tức ở”, dịch sang tiếng Tây, tương đương từ “đố kỵ” - một trạng thái cảm xúc tiêu cực, khó chịu, ghen ghét, cay cú trước thành công, danh tiếng người khác.

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Trong bối cảnh văn hóa đọc Việt Nam đang chứng kiến những chuyển động chưa từng có, một hiện tượng nổi bật là sự trỗi dậy mạnh mẽ của sách ngoại văn, đặc biệt là qua các hiệu sách độc lập (indie) có giám tuyển. Không chỉ phản ánh nhu cầu cập nhật tri thức toàn cầu của lớp độc giả trẻ, hiện tượng này còn đặt ra những câu hỏi mang tính chiến lược về con đường đưa văn chương Việt Nam ra thế giới.

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh ban hành văn bản chấn chỉnh hoạt động biểu diễn, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chấm dứt tình trạng hát nhép trên sân khấu. Việc này đã nhận được sự đồng thuận cao, không chỉ từ phía những nhà quản lý văn hóa mà cả với những người trực tiếp hoạt động biểu diễn, doanh nghiệp tổ chức biểu diễn.

AI - Tìm đâu ra người thật?

AI - Tìm đâu ra người thật?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang thay đổi cách sách đi từ tay tác giả đến bạn đọc từ khâu sáng tác và biên tập đến in ấn và marketing. Không phải ai cũng hoan nghênh sự thay đổi này, và quả thực là ngoài một số lợi ích nhất định, việc sử dụng AI tràn lan cũng đem lại nhiều vấn đề làm đau đầu các nhà xuất bản, đơn cử như việc con người để cho AI thay thế tác giả và biên dịch viên.

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Trong đám tang nhà thơ Đàm Khánh Phương tại nhà tang lễ Đức Giang hôm ấy, ngoài nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - có mặt và sau đó đọc điếu văn - tôi thấy không nhiều các nhà văn, nhà thơ khác đến đưa tiễn. Phương ít bạn, hay là khi khỏe mạnh, Phương đã có những điều làm bạn bè khó cảm thông?  

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Năm 2001, đạo diễn Steven Spielberg ra mắt bộ phim “A.I. - Artificial Intelligence”, kể về cậu bé robot David được lập trình để yêu thương vô điều kiện. Khi người mẹ nuôi bỏ rơi cậu giữa rừng, David bắt đầu hành trình 2000 năm đi tìm một ngày được sống bên bà. Khi những sinh vật tiến hóa đánh thức cậu giữa tàn tích băng giá, điều David xin không phải tri thức hay quyền năng, mà chỉ là một ngày được yêu thương.

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Động viên đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo luôn là một trong những chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Văn hóa soi đường quy hoạch

Văn hóa soi đường quy hoạch

Gần đây, có hai sự việc nhận được khá nhiều sự quan tâm của dư luận, và vẻ bề ngoài, hai sự việc ấy không hoàn toàn liên quan tới nhau nhưng sâu trong bản chất, chúng lại có một điểm chung.

Sống để kết nối yêu thương

Sống để kết nối yêu thương

Sống là để kết nối những yêu thương, bởi cuộc sống có biết bao nhiêu điều đáng yêu mà chúng ta không thể kể tên hết được. Đó là một cảm nhận của người viết có được mỗi khi quan sát và lắng nghe từng thanh âm của cuộc đời. Dẫu biết hằng ngày vẫn xuất hiện cái ác, cái xấu nhưng còn có biết bao người tốt, bao hành động cao cả.

“Cái chết” của sách bìa mềm

“Cái chết” của sách bìa mềm

Cuộc cách mạng văn học hiện đại có sự đóng góp không hề nhỏ của sách bìa mềm. Những quyển sách bìa mềm được bày bán khắp mọi nơi với giá cả phải chăng đã đưa văn học đến với tất cả mọi thành phần trong xã hội.

Quyết liệt phát triển văn hóa

Quyết liệt phát triển văn hóa

Diễn biến mới nhất của việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, do Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành ngày 7/1/2026, đó là Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đã có cuộc họp đầu tiên, trong tuần qua, với nhiều nội dung quan trọng.