Năm nay, cứ tưởng 3 ngày Tết rồi sẽ nắng nóng, sẽ không còn cái không khí xuân đặc trưng của những ngày Tết cổ truyền, trời se lạnh, mưa bụi giăng mắc… Thế mà chạm Tết, trời đã chuyển mùa. Đang oi ả trong cái nóng trái mùa giữa xuân, tiết trời bỗng dưng dịu lại.
Cái lạnh sót cuối của đợt rét đậm cuối cùng mùa đông trong năm vừa tới, đủ nhuốm vào không gian một sắc khí lành lạnh, một màu trời mưng mửng sáng, một vạn vật cỏ cây bừng thức mơn mởn của mùa xuân viên mãn. Và mưa xuân đã buông rơi, đã làm nhòa ướt cái không gian hôm trước vẫn còn khô, nóng. Ba mươi Tết, ra đường mưa xuân rơi ướt vai và tóc, mọi người lại tìm áo rét khoác vào người để ra đường đón xuân.
Thật lạ, sự linh thiêng của trời đất dường như luôn hiện hữu vào cái thời khắc đặc biệt này, thời khắc chuyển giao giữa cũ và mới, giữa đi và đến, biến mất và hiện hữu.
Tết luôn là khoảnh khắc đặc biệt cho tất cả. Nhưng mỗi một con người, một gia đình, một dòng họ, một vùng miền, Tết là khoảnh khắc riêng biệt cho từng cá thể. Người Hà Nội đón Tết không giống người miền Trung, càng không giống bất kỳ một vùng quê nào.
Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Trung, sống một phần đời mình rồi mới ra Hà Nội định cư làm người Hà Nội. Cuộc sống đôi chốn như vậy, cho tôi thưởng thức và cảm nhận những cái Tết khác nhau ở hai vùng miền văn hóa khác nhau. Thật ra, sinh ra và lớn lên ở đâu thì sẽ khó mà quên được những nếp sống, thói quen ở nơi đó. Có khi nếp sống, thói quen, truyền thống đó đã xưa cũ, đã lạc hậu, đã lỗi thời. Thế mới biết cái thói quen tồn tại trong mỗi nơi, mỗi người mới cố hữu làm sao.
Đã đón vài cái Tết ở Hà Nội rồi mới thấy dù có được sống nơi chốn kinh kỳ thì quê hương, mảnh đất chôn nhau cắt rốn vẫn có một sức nặng kỳ lạ, đủ cho những người con xa quê như tôi mỗi khi Tết đến chỉ muốn nhanh chóng kết thúc công việc, nhanh chóng tạm biệt chốn phồn hoa đô hội để về với những thói quen cố hữu, với quê nghèo, với họ tộc, làng mạc. Bởi thế mà lỡ có năm nào vì mua nhà mới, vì con còn quá bé, và vì đủ lý do khác để không thể về quê đón Tết được mà ở lại ăn Tết ở Hà Nội, thì chao ôi là buồn, là nhớ quê, là lạc lõng phương trời …
Nếu người Hà Nội mà về quê ăn những cái Tết nghèo ở miền Trung quê tôi thì đến chết buồn mất vì không khí chìm lắng, hướng về họ tộc, làng mạc ở nơi này. Tết ở Hà Nội vui và náo nhiệt. Mọi người hối hả gặp nhau trước Tết, chúc nhau cũng trước Tết, mọi lễ nghĩa, nghi thức khác thuộc về gia đình họ hàng phần lớn cũng được tiến hành trước ngày 30 Tết để chiều 30, gia đình quây quần bên mâm cỗ lễ tất niên, kết thúc năm cũ, bước sang năm mới là kéo nhau đi hội, du xuân, lễ lạt cầu cúng cầu phúc, cầu lộc, cầu danh ở đền, chùa, miếu… Ở
Hà Nội, giao thừa xong, mọi người kéo ra đường hái lộc, đêm giao thừa sẽ là đêm hội rộn rã, vui vẻ và náo nhiệt nhất, mở đầu cho một ngày mới của năm mới, mở đầu cho tháng đầu tiên trong năm mùa lễ hội du xuân, cúng bái lễ lạt chùa chiền… Sau giao thừa, ngay từ mồng một Tết mọi người đã kéo nhau đi hội, và đi liên tục, thông tầm cho đến hết rằm tháng Giêng, sang cả tháng hai. Tết ở phương Bắc nghiêng về lễ, hội, nghiêng về các cuộc thưởng ngoạn du xuân.
Nhưng ai đã quen ăn Tết ở quê, sống trong không khí Tết của những người nông dân đầu tắt mặt tối ở những xóm làng nghèo mà bình dị thì sẽ cảm thấy lạc lõng với những cái Tết ở phố phường. Quê tôi, đến ba mươi Tết chưa chắc đã xong việc ngoài đồng, vì vội bắc mạ, gieo mạ cho vụ đông xuân tới. Nhưng cứ đến chiều ba mươi, gieo xong những ruộng mạ cuối cùng, vãi xong những hạt thóc đã lên mầm sót cuối, gác mọi công việc, mọi bận rộn lo toan, những người dân quê tôi theo truyền thống ngồi lại bên nhau quây quần mâm cơm cúng gia tiên, cúng tiễn năm cũ, đón năm mới.
Làng Tam Đồng quê tôi cũng giống như mọi ngôi làng trên dải đất miền Trung này, cứ năm hết Tết đến, các con cái đi làm ăn xa quê lại lục tục kéo nhau đùm đùm, gói gói, tay xách nách mang, vợ chồng con cái cháu chắt kéo nhau trở về. Tục lệ nơi quê tôi là vậy, dù lập nghiệp nơi xa, dù đã có gia đình, đã an cư lạc nghiệp nhưng cứ ngày Tết, chỉ trừ những người gia cảnh khó khăn, việc đi lại về quê ăn Tết là việc khó, làm ăn thất bát không đủ lộ phí và chi phí để về quê ăn Tết mới chịu ở lại ăn Tết xa nhà. Còn lại, ai ai dù trẻ, dù đã lên chức ông, chức bà, còn gia đình, người thân, họ hàng ở quê nhà là thể nào đến Tết cũng phải hành hương trở về nguồn cội, coi như đó bổn phận, là trách nhiệm, nhưng cũng là một niềm hạnh phúc lớn.--PageBreak--
Đêm trừ tịch ở xóm Chòm Nam, làng Tam Đồng, xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên quê tôi giống như bất kỳ làng quê nào khác ở Hà Tĩnh thật vắng lặng và có vẻ thật buồn. Tết ở quê tôi nặng về phần cúng lễ trước bàn thờ gia tiên, cúng thổ thần, thổ địa ở ngoài trời, và cúng lễ ở nhà thờ họ.
Đêm trừ tịch ở quê thanh vắng và lặng lẽ đến mức nếu ai đó lỡ một lần lạc phố về quê ăn Tết sẽ thấy buồn hiu hắt. Nhà nào cũng có bàn thờ ở trong nhà và ngoài trời. Đêm trừ tịch nhà nào cũng đỏ hương trên bàn thờ, đỏ hương ở ngoài trời. Những đốm hương chi chít quanh nhà, quanh gốc tre, bụi duối ở quê mang lại cho con người một cảm giác âm dương hiện hữu.
Đúng 12 giờ đêm, nhà nào cũng gióng lên một hồi kẻng chuẩn bị cho một nghi thức cúng giao thừa. Tiếng kẻng xua mọi điều không may mắn, phiền muộn của năm cũ đi, để đón năm mới may mắn bình an. Tiếng kẻng xé toang không gian tĩnh mịch, gọi hồn người chết về ăn cỗ giao thừa. Tiếng kẻng xua ma quỷ, đón thần linh… Nhà ai cũng phải thức cả đêm để nấu cỗ, trước 0g đã bày biện đủ cỗ lễ bao gồm xôi, gà, bánh chưng, cốm nếp trên bàn thờ gia tiên và bàn thờ thổ công thổ thần ở ngoài trời. Khi chuông đồng hồ điểm 12 giờ, tivi vang lên lời chúc Tết của Chủ tịch nước cũng là lúc cha tôi đánh kẻng, thắp đỏ hương lên tất cả các ban thờ. Dù đã lớn, đã trưởng thành mấy anh chị em tôi không bao giờ quên được khoảnh khắc lúc giao thừa khi mỗi đứa bên một góc cột nhà chăm chú xem cha cúng lễ.
Nhà tôi, cha mẹ là con trưởng, nên thừa kế ngôi nhà của cụ kỵ, ông bà để lại. Gian chính nhà tôi đặt 3 chiếc bàn thờ trên đó gần chục bát hương thờ các bài vị khác nhau của tổ tiên. Trong số hơn chục bát hương ấy, chỉ có duy nhất bát hương của bà nội là mấy anh chị em còn biết vì bà nội mất khi mấy anh chị em tôi đã lớn, đã đi học đại học. Còn lại là những bát hương mà anh chị em tôi chỉ biết người đã khuất qua những tấm ảnh truyền thần vẽ lại. Cha mẹ tôi từ ngày nghỉ hưu, từ khi các con trưởng thành, có gia đình riêng, làm ăn xa, niềm vui sướng nhất, và cũng là thói quen ý nghĩa nhất ấy là thắp hương và cúng lễ tại nhà vào ngày rằm và mồng 1 hàng tháng. Bất cứ đứa con nào làm ăn xa, tạt qua nhà thăm cha mẹ thì khi về cha mẹ cũng bắt đứng trước bàn thờ thắp hương báo với tổ tiên, và trước khi đi lại thêm một tuần hương nữa để cẩn cáo với tổ tiên xin điều lành trước khi đi xa.
Lương hưu cha mẹ vài triệu 1 tháng, có khi cả tuần ăn cơm rau cà muối nhưng tiền để mua nến, mua hương, mua hoa tươi hàng tháng thì không bao giờ được phép thiếu. Tiền để hiếu hỉ trong chòm xóm cũng không bao giờ được phép thiếu. Một tháng 30 ngày thì có tới 29 ngày đi hiếu hỉ. Lệ làng tôi là vậy, không bao giờ thay đổi. Bà con có ai cưới hỏi, làm nhà, ma chay, đình đám thì phải đến bằng được mới là tình làng nghĩa xóm. Bởi vậy mà khi mẹ tôi đi viện trở về nhà, cả làng cả xóm đến thăm. Việc cúng lễ, giỗ chạp trong gia đình cha mẹ tôi nhiều và thường xuyên đến mức, nhiều khi mấy anh chị em tôi có cảm giác như cha mẹ đang sống một cuộc sống hòa quyện với người cõi âm. Mọi nếp sống, sinh hoạt, chuyện trò của cha mẹ dường như ở giữa những linh hồn. Đến mức, khi mẹ tôi ốm, bà bị bệnh azimơ, trong những lúc mất trí, bà chỉ nhớ quanh quẩn mỗi việc giục mấy anh em tôi làm cơm cúng giỗ, đặt lễ quả thắp hương trên bàn thờ.
Có đón Tết ở quê, đón những giao thừa ở làng mới thấu nhận hết cái linh thiêng của trời đất, của Tết cổ truyền. Nhà ai cũng cúng giao thừa hàng tiếng đồng hồ. Sau khi cúng lễ xong, chờ cho tàn hương, thay vì đi hái lộc như người Bắc và đến chùa chiền cầu lộc đầu năm thì ở quê tôi cả nhà dứt khoát phải quây quần bên nhau để hạ cỗ và ăn Tết ngay những giờ phút đầu tiên của năm mới.
Tục lệ là vậy, không ai đi hái lộc đầu xuân, ít người kéo nhau ra đền chùa cầu may cầu phúc như người thành phố. Mồng một Tết việc đầu tiên của mỗi gia đình là mang mâm cỗ xôi chè ra cúng ở nhà thờ họ. Mỗi một dòng họ có một nhà thờ riêng, và từ ba mươi cho đến mồng một Tết gia đình ai cũng kéo con cháu chắt ra nhà thờ họ để làm lễ.
Tết ở quê tôi nặng về lễ nghĩa trong họ tộc. Thay vì mở đầu cho một dịp du xuân, lễ chùa cầu phúc, cầu may thì mồng một Tết, con cháu trong dòng họ ra nhà thờ thắp hương cúng lễ và cầu lộc cầu tài ở ngay nhà thờ họ của mình. Sau khi phần cúng lễ ở nhà thờ họ về, con cháu trong nhà mới kéo nhau đi chúc Tết.
Đầu tiên phải chúc Tết những người thân trong gia đình như bác, chú, dì, cô cậu, sau đó mới đến những người thân trong dòng họ. Cuối cùng là đi chúc Tết bà con, chòm xóm xung quanh. Đến nhà ai chúc Tết cũng phải dọn cơm, mời rượu. Có khi, ngày mồng một Tết người đàn ông trong nhà đi từ nhà ra đến đầu ngõ đã say khướt bởi vào chúc Tết nhà ai cũng chúc rượu, cũng mời ăn.
Cứ thế ba ngày Tết, đàn ông trong làng say la đà, trẻ con trong xóm tíu tít đánh đáo ăn tiền, người già xúng xính áo đỏ, khăn vấn nhai trầu bỏm bẻm cả ngày. Lạ thế, Tết ở quê, có thể nhà nghèo không đủ tiền mua thịt mua cá, mua chả công nem phượng nhưng không thể thiếu nước chè xanh, rượu cuốc lủi và trầu để mời nhau dịp Tết. Nhà ai có ông bà già thì Tết sẽ đông vui nhất bởi cả làng, cả xóm thể nào cũng kéo nhau đến chúc Tết, mừng tuổi tối ngày. Thế cho nên, những người con xa quê, mai này chỉ không còn muốn trở về quê mỗi Tết khi cha mẹ mình không còn nữa, khi cha mẹ đã bỏ dương gian mà đi xa.
Nhưng đêm đến ở làng điện đóm leo lét, nhà nào lại quây quần nhà nấy, đường sá vắng tanh vắng ngắt, bóng tối phủ ập xuống, làng quê tịch mịch bao trùm mùi trầm hương, bởi không khí quạnh quẽ, vắng lặng, buồn buồn… Có lẽ, tất cả những cái đó đã làm nên cái mùi Tết đặc trưng khó lẫn và khó tìm ở bất cứ nơi nào.
Thế nên xa quê đã lâu mà vẫn không dứt được những cái Tết quê đượm mùi thương nhớ