Đòi lại nhà sau hơn 20 năm xuất cảnh
Căn nhà số 143, Nam Kỳ Khởi Nghĩa (nay là Nguyễn Văn Trỗi) phường 11, quận Phú Nhuận (TP HCM) được vợ chồng ông Châu Văn Được (nghệ sỹ Thành Được) và bà Lê Thị Liên mua vào tháng 2/1984. Cũng trong tháng 2 này, nghệ sĩ Thành Được đi biểu diễn ở nước ngoài nhưng sau đó thì không về Việt
Tuy nhiên, theo quy định của UBND TP Hồ Chí Minh lúc bấy giờ (cụ thể là Chỉ thị số 33/CT-UB ngày 6/8/1984) thì người xuất cảnh định cư ở nước ngoài không được bán nhà cho tư nhân mà chỉ được phép bán cho Nhà nước. Công ty Du lịch Dầu khí Việt Nam (nay là Công ty TNHH một thành viên Du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam (OSC Việt Nam) trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; trụ sở đặt tại số 2, Lê Lợi, TP Vũng Tàu, Bà Rịa - Vũng Tàu) - một doanh nghiệp Nhà nước có nhu cầu mở rộng hoạt động tại TP HCM nên thỏa thuận với bà Liên để mua căn nhà này.
Trước khi mua, OSC Việt
Vì vậy mà sau đó OSC Việt Nam phải tự liên hệ với các cơ quan chức năng để xin cấp giấy chủ quyền và đã được UBND TP HCM đã cấp giấy chủ quyền cho OSC Việt Nam đối với căn nhà 143 vào ngày 9/7/1993. Sau đó, OSC Việt Nam đã tiến hành góp vốn bằng giá trị ngôi nhà này vào Công ty Liên doanh dịch vụ du lịch (OSC-SMI) và liên doanh này đã sử dụng nhà 143 liên tục từ đó cho đến nay.
Năm 2006, hơn 20 năm sau kể từ ngày xuất cảnh, vợ chồng ông Được, bà Liên quay về Việt Nam và tiến hành khởi kiện OSC Việt Nam đòi lại nhà 143. Theo đơn khởi kiện, bà Liên cho rằng năm 1985, trước khi xuất cảnh bà làm đơn xin bán nhà 143 gửi cơ quan chức năng TP. Tuy nhiên, do việc giải quyết của các cơ quan chức năng kéo dài nên ngày 19/5/1986 (trước khi xuất cảnh 7 ngày) bà làm đơn gửi Sở Nhà đất để ủy quyền cho anh bà là ông Lê Mộng Ngọc (ngụ quận 5) thay mặt làm thủ tục bán nhà và nhận tiền thay bà. Ông Ngọc nhiều lần lên Sở Nhà đất xin giải quyết nhưng không có kết quả. Nay bà Liên yêu cầu OSC Việt
Hàng loạt văn từ không bằng một "tờ giấy lộn"
Trong phiên tòa sơ thẩm do TAND TP HCM xét xử diễn ra vào ngày 7 và 10/4/2008, bà Liên lý giải việc OSC Việt Nam sử dụng căn nhà 143 là do bà cho mượn trước khi xuất cảnh chứ hoàn toàn không có chuyện mua bán nhà và đã nhận tiền của OSC Việt Nam.
Các chứng cứ mà OSC Việt
Bị đơn kháng cáo, ngày 19/1/2009, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP HCM đưa ra xét xử phúc thẩm vụ kiện. Theo tòa phúc thẩm thì hồ sơ gốc liên quan đến căn nhà 143 có tổng cộng 58 văn kiện, trong đó có 6 văn tự mua bán nhà được Công ty Quản lý nhà bàn giao cho bộ phận mua bán nhà xuất cảnh thuộc Phòng Chính sách mua bán nhà thuộc Sở Nhà đất vào ngày 7/7/1986. Ngoài ra, nhiều công văn của UBND TP, Sở Nhà đất, ý kiến của lãnh đạo cao cấp của Nhà nước lúc bấy giờ đều đồng ý cho phép OSC Việt Nam mua nhà của ông Được, bà Liên và chấp nhận để OSC Việt Nam được hợp thức hóa chủ quyền căn nhà này.
Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm này, OSC Việt Nam đã cung cấp cho tòa thêm 2 chứng cứ trả tiền mua nhà bản chính là biên nhận tiền đợt 2 số tiền 400.000 đồng và phiếu xuất kho 1 tivi màu trị giá gần 150.000 đồng. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, bà Liên khăng khăng cho rằng mình không ký bất kỳ giấy tờ biên nhận tiền bán nhà nào nhưng theo giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP HCM đã kết luận chính bà Liên đã ký tên vào biên nhận 400.000 đồng nói trên.
Từ cơ sở đó, tòa phúc thẩm nhận định, việc mua bán nhà đất giữa bà Liên và OSC Việt Nam thực tế đã xảy ra từ năm 1985 nên việc tuyên án như thế là không khách quan, không đúng pháp luật. Tòa phúc thẩm tuyên hủy toàn bộ án sơ thẩm và giao tòa sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.
Phiên tòa sơ thẩm lần 2 vẫn đi theo "vết xe đổ" khi cho rằng các văn tự mua bán nhà là bản photocopy nên không có giá trị làm chứng cứ. Phía bị đơn đề nghị tòa chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra để làm rõ vì sao các văn tự này bị biến mất nhưng tòa vẫn phớt lờ. Trong khi đó việc mất bản chính này có liên quan mật thiết đến vụ kiện, quyết định sự thật của vụ án một cách rõ ràng nhất. Ngoài ra, trong phiên sơ thẩm lần 2 này, khi không còn chối cãi được nữa, bà Liên đã thừa nhận mình chính là người đã viết và ký vào biên nhận nhận tiền đợt 2 và có nhận chiếc ti vi màu của OSC Việt Nam nhưng bà cho rằng đó là số tiền mà OSC hỗ trợ bà để mượn nhà...
Hàng loạt câu hỏi từ phía luật sư của bị đơn đặt ra nhưng tòa vẫn "cho qua", chấp nhận mọi lời khai của bà Liên là sự thật dù không có chứng cứ chứng minh. Để rồi ra quyết định giống như bản án lần 1. Chỉ có khác là lần này, tòa buộc bà Liên phải có trách nhiệm trả lại cho OSC Việt Nam số tiền 400.000 đồng được quy ra vàng, tương đương với hơn 12 lượng vàng vào thời điểm tuyên án.
Quá bức xúc trước bản án nên OSC Việt
Kết quả xác minh (có lập biên bản, ký đóng dấu hẳn hoi) cho thấy các văn tự bán nhà không phải là bản photocopy mà có công chứng hẳn hoi. Biên bản này sau đó được OSC Việt