Lê Thiết Cương: Có những ngón dài, đôi khi, buông, hẫng…

Vì cuộc đời không hoàn toàn theo một thứ tự anh Cương có thể sắp đặt được trên mặt bàn nên có những lần anh không thể đưa đôi bàn tay mình ra để chỉn chu lại mọi thứ... Đó là lúc đôi bàn tay buông, hẫng.

Khi bóng đêm sập xuống giá vẽ, 
đó là lúc không chỉ sắc mầu trong tranh họ Lê đứng lên
bước ra và, 
đi tới à thế giới. (D.T.L)

Đôi bàn tay trắng trẻo, với những ngón gầy, dài, đẩy những chiếc ly không thành một hàng ngang thẳng tắp trên bàn. Ba chiếc ly ấy, nếu nhìn từ trên cao, theo một chiều thẳng đứng, nằm cân xứng ở chính giữa chiếc bàn gỗ mặt kính ngả màu cũ kỹ.

Lại đôi bàn tay ấy, vươn ra thêm một chút, đẩy những ly để nến theo một hàng dọc, cũng thẳng tắp, cũng trên mặt bàn đó, và cũng cân-xứng-tuyệt-đối. Những ánh sáng của nến xuyên qua lớp thuỷ tinh mosaic chườm mình xuống mặt bàn, lập, loè. Tôi khẽ cựa mình vì cái lạnh len lén tràn qua khe cửa nhỏ sau lưng mình. Cài lại tấm áo, tôi nhìn xuống những đốm sáng ấy và tự hỏi: “Chúng đang vẽ gì?”…

Hà Nội bữa ấy ẩm ướt đến khó chịu. Cái nồm sau Tết bao giờ cũng khó chịu đến thế. Nó khiến con người ta cảm giác chính mình cũng ẩm ướt, mốc thếch. Lâu rồi tôi không về Hà nội. Lần ấy về, gặp đúng bữa nồm, thấy lòng nản đến lạ thường.

Nhưng trong chính thời khắc đó, trên căn gác rộng và mờ mờ tối đó, tự nhiên cảm giác ẩm ướt, mốc thếch kia đã biến mất không còn vết dấu nào. Phải chăng từ màu đèn vàng dìu dịu toả xuống từ trần nhà? Phải chăng vì những đốm lập, loè của nến đang xâm chiếm mặt bàn kia? 

Không phải là như vậy. Tôi đã gặp đèn vàng đến quen, gặp ánh nến chập chờn đến thân mà cảm giác ấy chỉ có ở nơi này thôi, nơi của những ngón tay gầy, dài khe khẽ đẩy những chiếc ly kia, những ngọn nến này, thành hàng nghiêm cẩn và cân xứng tuyệt đối. 

Ảnh: Vương Ngọc Minh.
Ảnh: Vương Ngọc Minh.

À, có lẽ là bởi sự nghiêm cẩn, bởi sự im lặng, bởi sự trang trọng như một lễ hiến tế mà mọi cảm giác khác đã bị trục xuất khỏi tâm trí tôi để nhường chỗ cho một sự tập trung đến cao độ. Đúng rồi, khi con người ta tập trung đến cao độ cho một nghiêm-cẩn-hành-lễ nào đó, người ta sẽ quên đi tất cả. Quên ẩm, mốc. Quên nóng cháy, nhớp nháp. Quên lạnh, buốt, tê dại. Quên mỏi, mệt, buồn, nản. Quên, quên hết. 

Và người duy nhất đã khiến tôi phải tập trung như thế, như một nghiêm-cẩn-hành-lễ kiểu đó, chính là Lê Thiết Cương, ở buổi đầu tiên tôi được gặp anh, quen anh, qua những va đập tình cờ, ngẫu nhĩ…

Để rồi, từ lần đầu tiên gặp anh giữa những ngày nồm sau Tết năm đó, tôi đã được may mắn trở thành đứa em của anh, được đồng hành cùng anh trong những ngày chóng vánh gặp nhau, rượu nhiều như chuyện, khói mờ nhân diện, khi thì giữa Hà Nội, lúc chìm trong Sài Gòn, gấp gáp ngồi đấy thôi, nhưng chẳng bao giờ vội, và lúc nào cũng như lúc nào, bạn bè, bằng hữu, tề tựu đủ xung quanh.

Cảm giác đầu tiên mà anh Cương tạo ra cho tôi ấy là sự khó tính, khó tới mức tưởng như anh phải là một nhà sư phạm chứ không phải là một nghệ sỹ. Nhưng thực ra, đó là cái kỹ lưỡng của một người thích quan tâm đến các chi tiết thì đúng hơn. Và đó là điều khiến tôi thấy ngạc nhiên ở anh. Tôi không am hiểu nhiều về hội họa, nhưng ngắm những bức tranh của anh Cương, tôi thấy sự tối giản đến mức gần như là tuyệt đối.

Sự tối giản ấy, với cực ít chi tiết, khiến tôi bị chìm trong không gian của bức tranh như thể mình đang sống trong nó thì đúng hơn. Vậy mà người vẽ nên những bức tranh tối giản, ít chi tiết như thế lại là một người vô cùng chi tiết trong đời sống. 

Anh chi tiết từ chiếc nhẫn đeo ở ngón cái trở đi cho tới việc đẩy từng vật thể nhỏ trên mặt bàn cho nó phải nằm ở đúng vị-trí-chủ-nhân-mong-muốn. Và bàn tay anh luôn luôn có việc để làm, kể cả khi đó là cuộc chơi với những người bạn tại “bar rượu 39A” theo cách mà anh gọi căn nhà của mình.

Bất kỳ một vết nước đọng nào, một dấu rượu vang mờ mờ nào, một chút bụi tàn thuốc nào vương trên mặt bàn, anh đều lập tức lau sạch nó, một cách kín đáo nhưng đầy tỉ mẩn. Điểm này thì tôi thấy mình có cái chung với anh. Tôi cũng thích như thế. Thích một mặt bàn phải theo đúng thứ tự mà tôi muốn. Thích một mặt bàn phải sạch khi đang uống rượu cùng ai đó. Thích một mặt bàn không có chi tiết dư thừa nào.

Nhưng anh Cương còn kỹ hơn bất kỳ ai tôi đã từng thấy, từng gặp trong đời. Giữa cuộc chơi, nếu ai đó muốn nghe nhạc, anh sẵn sàng cặm cụi cầm chiếc chổi nhỏ quét sạch từng lớp bụi trên mâm đĩa vynil, quét sạch từng chiếc đĩa và trang trọng đặt nó lên một cách dịu dàng như thể anh đang đặt một cô gái đẹp lên tấm thảm tuyệt diệu dành cho nàng. Rồi sau đó là âm nhạc bay lên, đặc biệt là nhạc cổ điển, đặc biệt là đĩa Jonas Starker độc tấu cello những tác phẩm của Bach.

Và sau khi một mặt đĩa đã kết thúc nhiệm vụ trình tấu của nó, anh không bao giờ trở mặt đĩa thứ hai mà anh luôn để lại một khoảng dừng thật lâu. Sau đó, anh sẽ đổi một đĩa khác; nghe hết một mặt đĩa, hoặc một hai bản đầu, anh lại cho dừng lại. Âm nhạc trong căn phòng ấy luôn như thế. Vang lên. Dừng lại một lúc lâu. Rồi lại vang lên. Rồi lại dừng lại. 

Dường như anh Cương cần một khoảng lặng để dư âm của giai điệu được “thở” thì phải? Hay anh muốn có một khoảng lặng để cảm nhận nó sâu hơn, dù với anh, nó đã trở thành quen thân như máu thịt?

Ấy vậy mà trái với cái nghiêm cẩn như hành lễ ấy của những lúc nhập cuộc chơi, càng về sau anh Cương lại càng thể hiện cái sôi nổi của mình, cái sôi nổi hồn nhiên, cao ngạo nhưng lại đáng yêu vô cùng. Không phải men đã làm anh như thế bởi anh Cương không uống nhiều. Rượu với anh dường như chỉ là một phụ gia cuộc đời, cho nó thêm chút nồng, thêm chút hương thi vị.

Sự sôi nổi ấy chính là cái hạch tâm của Lê Thiết Cương trong khi cái nghiêm cẩn kia chỉ là lớp vỏ bao bọc bên ngoài mà thôi. Khi lớp vỏ bọc đã hoàn thành nhiệm vụ của nó, lớp hạch tâm mới theo đó hiện hình và nó cũng chỉ hiện hình đối với những người nhất định trong mắt anh mà thôi.

Anh Cương nói rất nhanh, và ngắn gọn, không dài dòng. Nhiều khi anh nói như một mệnh lệnh vậy. Nó là sự xác quyết cho vị thế của anh giữa một đám đông. 

Như cách anh đã nói trong buổi ra mắt phim ngắn Trốn tìm của anh ở Sài Gòn vậy. Và anh cũng viết giống như anh nói. Gãy gọn, súc tích, khúc chiết và không hề dài dòng. Những ý cần nói, anh nói đủ. Những rườm rà, thường anh chẳng bao giờ đụng tới. Hoá ra, anh nói và viết cũng như vẽ tranh. Tối giản. Tinh. Gọn gàng. Nhưng nhiều suy ngẫm.

Nhiều khi, tôi vẫn nghĩ, cuộc đời của người nghệ sỹ chính là tác phẩm lớn nhất mà người nghệ sỹ ấy thực hiện được, một tác phẩm chỉ kết thúc khi người nghệ sỹ đã nhắm mắt lại để từ giã cuộc đời này. Và anh Cương cũng đang miệt mài trong việc tạo nên hình hài tác phẩm ấy, bằng những gì anh đã và đang trải qua.

Thực ra, đằng sau vẻ sôi nổi, hoạt bát, nhanh nhẹn và mạnh mẽ của anh là cả một mảng màu khác mà ít ai biết tới, hoặc có biết tới cũng ngại ngần không dám sẻ chia cùng anh. Vẻ ngoài ấy như những khối màu đồ sộ, dàn trải khiến người ta dễ choáng ngợp. 

Còn những điều anh giấu, nó như những chi tiết mà anh Cương luôn muốn tối giản hóa như cách anh đã vẽ tranh. Khi cả hai được nhập vào nhau, đó sẽ là một tác phẩm của đời anh, một tác phẩm không mấy người có thể cảm nhận được.

Tôi luôn nhớ đêm Hà Nội hôm ấy. Bên ly rượu, dưới ánh đèn mờ, tôi đã đọc một bài thơ cũng của một người họ Lê tặng cho anh Cương. Tôi đã thấy đuôi mắt anh có chút lấp, lánh, ươn ướt khi bài thơ ấy kết thúc. Chưa bao giờ tôi thấy mắt anh Cương như thế. Không phải tại ánh đèn; không phải tại tôi say mà tôi biết, anh nhận ra một chút gì đó của mình, của người, một chút không hề bị tối giản chút nào mà vẫn mỗi ngày mỗi đang trải rộng ra hơn, với những đường nét đậm đầy hơn.

Tôi chợt nhớ lại thời khắc diệu kỳ của đêm ấy. Một bàn tay anh cầm lấy gọng kính. Còn bàn tay kia, anh khe khẽ gõ gõ lên mặt bàn kính, theo từng nhịp đọc của tôi, những cái gõ không thành tiếng, những cái gõ không muốn phá-tan-không-khí-yên-lặng mà anh muốn dành cho thơ. Anh Cương rất yêu thơ, yêu thơ Đặng Đình Hưng, yêu thơ Vũ Hoàng Chương, và nhiều khi, anh vẽ như thể cọ của anh thở trong những nhịp thơ như thế.

Đôi bàn tay với những ngón dài đẩy những chiếc ly.
Đôi bàn tay với những ngón dài đẩy những ngọn nến.
Đôi bàn tay với những ngón dài đặt trên mặt kính sạch bong.
Đôi bàn tay thực ra rụt rè hơn người ta tưởng.

Vì cuộc đời không hoàn toàn theo một thứ tự anh Cương có thể sắp đặt được trên mặt bàn nên có những lần anh không thể đưa đôi bàn tay mình ra để chỉn chu lại mọi thứ như anh mong muốn. Đó là lúc đôi bàn tay buông, hẫng. Khoảng lặng ấy anh không bao giờ chia sẻ với ai. Nhưng tôi tin, tôi đã nhìn thấy nó, đôi khi, trong dáng anh đi, trong tiếng anh nói, trong nét cười rất hiếm khi của anh và đặc biệt, trong đôi mắt ẩn chứa nhiều điều bí nhiệm.

Nhưng đôi bàn tay ấy đã cho tôi hiểu thêm một điều. Cuộc đời bộn bề lắm. Cuộc đời vẫn còn dài. Có gì còn thu xếp được, mình vẫn phải đưa tay ra thu xếp lấy. Dù đó chỉ là những việc nhỏ nhất, như chiếc ly, như chân nến, như chiếc hộp quẹt nằm trơ trên mặt bàn.

Đơn giản, nếu ta không đưa tay, chiếc ly rơi, có thể có nhiều điều khác, sẽ oan-uổng-vỡ…

Hà Quang Minh

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.