Quản trị an ninh phi truyền thống trên lĩnh vực văn hóa trong kỷ nguyên mới

Kỳ 2: Từ phòng ngừa rủi ro đến kiến tạo sức mạnh văn hóa quốc gia

Từ tư duy “giữ cho an toàn” đến kiến tạo một nền văn hóa mạnh

Kỳ trước đã chỉ ra rằng những nguy cơ phi truyền thống trên lĩnh vực văn hóa ngày càng đa dạng: từ sự xói mòn hệ giá trị, khủng hoảng niềm tin, tin giả, thông tin sai lệch, thao túng bằng thuật toán đến xâm phạm bản quyền, thất thoát dữ liệu văn hóa, thương mại hóa di sản và tác động của biến đổi khí hậu. Điểm chung của các nguy cơ này là chúng thường không xuất hiện như một cuộc tấn công có thể nhìn thấy ngay, mà tích lũy dần trong nhận thức, thị hiếu, lối sống và cách ứng xử của con người. Bởi vậy, tư duy quản trị cũng phải thay đổi.

62406ac3-89c5-48f2-8c3c-b6aa4b30816c.jpg

Trong một thời gian dài, quản lý văn hóa thường tập trung vào cấp phép, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Những công cụ ấy vẫn cần thiết, nhưng không còn đủ trước tốc độ phát triển của công nghệ và sự mở rộng của không gian số. Khi hàng triệu nội dung được tạo ra mỗi ngày, không một cơ quan quản lý nào có thể đọc, xem và kiểm soát tất cả. Nếu chỉ tập trung xử lý phần ngọn, chúng ta sẽ luôn đi sau các nguy cơ.

Quản trị an ninh văn hóa trong kỷ nguyên mới phải bắt đầu từ việc kiến tạo một môi trường trong đó những giá trị tích cực có cơ hội phát triển mạnh hơn, lan tỏa nhanh hơn và hấp dẫn hơn các nội dung độc hại. Nói cách khác, bên cạnh “sức mạnh ngăn chặn”, phải hình thành “sức mạnh thay thế”: lấy cái đẹp đẩy lùi cái xấu, lấy thông tin chính xác hạn chế thông tin sai lệch, lấy sản phẩm văn hóa có chất lượng mở rộng lựa chọn lành mạnh cho công chúng.

1.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam.

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu “từng bước chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển”; đồng thời phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của nhân dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng. Đây không chỉ là định hướng đối với phát triển văn hóa, mà còn là chìa khóa của quản trị an ninh văn hóa: một nền văn hóa có sức sống, có khả năng sáng tạo và tự điều chỉnh chính là nền văn hóa có năng lực tự bảo vệ bền vững nhất.

Từ tinh thần đó, theo tôi, quản trị an ninh phi truyền thống trên lĩnh vực văn hóa cần được tổ chức trên ba trụ cột: thể chế chủ động, công nghệ làm nền tảng và con người là trung tâm.

Trước hết, cần hoàn thiện thể chế theo hướng không chỉ quy định điều gì không được làm, mà còn xác lập rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong toàn bộ chuỗi sản xuất, phân phối và tiếp nhận văn hóa.

base64-1759231760094861766131.png
Diễn đàn Phát triển Hạ tầng số Việt Nam 2025 - Ảnh: VGP/TG

Đối với các nền tảng số xuyên biên giới, trách nhiệm không thể chỉ dừng ở việc gỡ bỏ nội dung vi phạm sau khi có yêu cầu. Cần tiến tới những nghĩa vụ cao hơn về minh bạch thuật toán, xác thực quảng cáo, bảo vệ trẻ em, lưu giữ bằng chứng điện tử, phối hợp xử lý nội dung vi phạm và bảo đảm người sử dụng có khả năng nhận biết nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra.

Đối với các nhà phát triển công nghệ, cần đặt nguyên tắc an toàn văn hóa, đạo đức và quyền con người ngay từ giai đoạn thiết kế sản phẩm, thay vì chờ sản phẩm gây hậu quả mới tìm cách khắc phục. Một hệ thống trí tuệ nhân tạo sử dụng dữ liệu văn hóa Việt Nam phải tôn trọng nguồn gốc dữ liệu, bản quyền, quyền của cộng đồng và tính toàn vẹn của di sản.

Đối với các chủ thể sáng tạo, tự do sáng tạo luôn phải đi cùng trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội. Nghệ thuật cần được khuyến khích khám phá những điều mới mẻ, nhưng không thể lấy sự xúc phạm nhân phẩm, kích động bạo lực hay gây tổn hại cho trẻ em làm phương thức thu hút công chúng.

quyen-con-nguoi-qdnd.jpg
Quan điểm lấy con người làm trung tâm của sự phát triển không chỉ là mục tiêu hướng tới mà đã và đang được thực hiện một cách có hệ thống ở Việt Nam.Ảnh: vtv.vn

Thể chế cũng phải đủ linh hoạt để không kìm hãm đổi mới. Những khái niệm như nội dung do AI tạo ra, giọng nói nhân tạo, nhân vật số, bảo tàng ảo hay tác phẩm tương tác sẽ tiếp tục phát triển. Pháp luật không thể chạy theo để mô tả từng công nghệ, mà cần xác lập các nguyên tắc ổn định về tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự đồng thuận, quyền sở hữu và cơ chế khắc phục hậu quả.

Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, nền tảng dùng chung, sản phẩm và dịch vụ văn hóa số. Nghị định cũng đặt yêu cầu dữ liệu văn hóa phải được tạo lập, chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, khai thác và bảo vệ phù hợp với đặc thù của lĩnh vực văn hóa. Vấn đề quan trọng tiếp theo là tổ chức thực thi đồng bộ, tránh tình trạng mỗi địa phương, mỗi đơn vị xây dựng một kho dữ liệu riêng, tiêu chuẩn khác nhau và không thể kết nối.

Xây dựng “hệ thống miễn dịch” cho văn hóa Việt Nam

Nếu thể chế là khung bảo vệ, dữ liệu và công nghệ phải trở thành nền tảng của năng lực dự báo.

Chúng ta cần từng bước hình thành một hệ thống quan sát và cảnh báo sớm về an ninh văn hóa. Hệ thống này không nhằm theo dõi đời sống riêng tư hay can thiệp tùy tiện vào hoạt động sáng tạo, mà để phát hiện các xu hướng có nguy cơ gây tổn hại trên quy mô lớn: chiến dịch lan truyền tin giả có tổ chức; nội dung kích động bạo lực; giả mạo nhân vật có ảnh hưởng; xuyên tạc lịch sử; mua bán trái phép cổ vật; xâm phạm bản quyền hàng loạt; hoặc những dấu hiệu mai một nghiêm trọng của một loại hình di sản.

3.jpg
Tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Ảnh baochinhphu.vn

Muốn làm được điều đó, cần kết nối dữ liệu giữa các cơ quan văn hóa, công an, khoa học và công nghệ, giáo dục, ngoại giao, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nền tảng. Dữ liệu không chỉ giúp xử lý vi phạm, mà còn giúp hiểu rõ đời sống văn hóa đang thay đổi như thế nào, nhóm công chúng nào dễ bị tổn thương và chính sách nào thực sự tạo ra chuyển biến.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu quản trị phát triển văn hóa phải lấy dữ liệu, tiêu chuẩn và kết quả thực tiễn làm cơ sở đánh giá, điều hành; đồng thời xây dựng các bộ chỉ số văn hóa quốc gia và chỉ số theo dõi việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW. Đây là định hướng rất quan trọng để chuyển từ nhận xét định tính sang quản trị dựa trên bằng chứng.

Cùng với bộ chỉ số phát triển văn hóa, có thể nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số về mức độ an toàn và khả năng chống chịu văn hóa ở từng địa phương. Các chỉ số có thể phản ánh chất lượng môi trường văn hóa; mức độ tiếp cận văn hóa của người dân; tình trạng vi phạm bản quyền; khả năng bảo vệ trẻ em trên môi trường số; sức sống của di sản; mức độ tham gia của cộng đồng; năng lực ứng phó với tin giả và khả năng sản xuất nội dung văn hóa có giá trị.

Điều đáng lưu ý là an ninh văn hóa không chỉ được đo bằng số lượng nội dung đã gỡ bỏ hay số vụ việc đã xử phạt. Hiệu quả thực chất phải thể hiện ở việc công chúng có khả năng nhận diện thông tin sai lệch tốt hơn; trẻ em được bảo vệ tốt hơn; nghệ sĩ được hưởng thành quả lao động chính đáng; di sản được truyền lại cho thế hệ sau; và văn hóa Việt Nam có vị trí ngày càng rõ nét trên các nền tảng số.

nb3.jpg
Bế mạc Festival Ninh Bình lần thứ III, năm 2024 mãn nhãn hàng nghìn khán giả bởi công nghệ trình chiếu 3D hiện đại. Ảnh: NGỌC MINH

Thực tiễn cho thấy lực lượng Công an nhân dân đang từng bước chuyển từ xử lý vụ việc đơn lẻ sang xây dựng năng lực tác chiến, giám sát và phòng ngừa trên không gian mạng. Tháng 3/2026, Công an TP Hồ Chí Minh đưa Trung tâm Tác chiến An ninh mạng vào vận hành nhằm tăng cường khả năng giám sát, bảo đảm an toàn thông tin và phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự trước các sự kiện chính trị – xã hội quan trọng. Đây là một ví dụ về việc đưa công nghệ, dữ liệu và cơ chế phối hợp vào phòng ngừa nguy cơ từ sớm.

Từ kinh nghiệm này, có thể nghiên cứu hình thành các đầu mối phối hợp chuyên sâu về an ninh văn hóa số, trong đó lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong phát hiện, điều tra và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật; cơ quan văn hóa chịu trách nhiệm thẩm định chuyên môn, xác định giá trị và tác động văn hóa; cơ quan khoa học và công nghệ hỗ trợ tiêu chuẩn, giải pháp kỹ thuật; báo chí chính thống cung cấp thông tin xác thực; doanh nghiệp nền tảng thực hiện trách nhiệm ngăn chặn và khắc phục.

Vai trò của lực lượng Công an không chỉ nằm ở xử lý vi phạm sau khi xảy ra. Quan trọng hơn là tham mưu chiến lược, cảnh báo phương thức, thủ đoạn mới, bảo vệ dữ liệu văn hóa quan trọng và phối hợp nâng cao nhận thức xã hội. Việc phòng, chống tin giả, tin sai sự thật, deepfake hay các chiến dịch thao túng nhận thức đòi hỏi vừa có công nghệ, nghiệp vụ, pháp luật, vừa có tri thức văn hóa và khả năng truyền thông thuyết phục.

Tuy nhiên, không thể xây dựng an ninh văn hóa chỉ bằng một hệ thống kỹ thuật từ trên xuống. “Tuyến phòng thủ” gần gũi và bền vững nhất vẫn là gia đình, nhà trường, cộng đồng và mỗi công dân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nhấn mạnh: “Một đất nước muốn đi xa phải có ‘la bàn’ về giá trị”. Hệ giá trị phải đủ rõ để giúp con người phân biệt đúng – sai, tốt – xấu, thật – giả và đủ bền vững để chống lại sự lệch chuẩn, lai căng, thao túng trong môi trường số.

“Chiếc la bàn” ấy không thể chỉ nằm trong các văn bản. Quyết định số 1189/QĐ-TTg về triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đã đặt ra yêu cầu đưa các giá trị thấm sâu vào đời sống, gắn với giáo dục, truyền thông, thực hành xã hội và đánh giá kết quả cụ thể. Điều này có ý nghĩa trực tiếp đối với an ninh văn hóa, bởi sức đề kháng trước thông tin độc hại trước hết được hình thành từ một nền tảng giá trị ổn định.

Giáo dục văn hóa trong kỷ nguyên mới phải vượt ra ngoài việc truyền đạt kiến thức về lịch sử, di sản hay các danh nhân. Người học cần được trang bị năng lực đọc hiểu truyền thông, kiểm chứng nguồn tin, nhận biết nội dung do AI tạo ra, hiểu tác động của thuật toán và biết chịu trách nhiệm về hành vi của mình trên không gian mạng.

Chúng ta không thể bảo vệ người trẻ bằng cách ngăn họ tiếp xúc với thế giới, nhưng có thể giúp họ bước vào thế giới với bản lĩnh, tri thức và khả năng lựa chọn. Một người trẻ hiểu sâu sắc văn hóa dân tộc sẽ không khép mình trước văn hóa nhân loại; ngược lại, họ có khả năng đối thoại bình đẳng, tiếp thu có chọn lọc và kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ của thời đại.

Chủ quyền văn hóa phải được tạo nên bằng sức hấp dẫn

Một vấn đề đặc biệt quan trọng là xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số. Chủ quyền ở đây không chỉ được hiểu là quyền ngăn chặn nội dung vi phạm, mà trước hết là năng lực tự chủ trong tạo lập dữ liệu, phát triển nền tảng, sản xuất nội dung và phân phối sản phẩm văn hóa.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu rõ yêu cầu “xây dựng năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa Việt Nam”, coi đây là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia trong thời đại số.

Điều này đặt ra yêu cầu phải coi dữ liệu văn hóa là một tài sản chiến lược. Tư liệu lịch sử, tiếng Việt, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, hình ảnh di sản, làn điệu dân gian, kỹ thuật thủ công, tri thức bản địa và các tác phẩm nghệ thuật cần được số hóa có tiêu chuẩn, có định danh, có thông tin nguồn gốc và cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Số hóa không thể chỉ là chụp ảnh rồi đưa lên một trang thông tin. Dữ liệu cần có khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng trong giáo dục, nghiên cứu, du lịch, công nghiệp văn hóa và phát triển trí tuệ nhân tạo. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã lưu ý không chạy theo tỷ lệ số hóa hình thức; dữ liệu di sản chỉ tạo ra giá trị mới khi có khả năng phục vụ quản lý, giáo dục, nghiên cứu, sáng tạo và phát triển.

Đồng thời, phải thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa Nhà nước, cộng đồng, nghệ nhân, tác giả, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp. Không thể để tri thức truyền thống của cộng đồng được khai thác thương mại trên quy mô lớn nhưng cộng đồng chủ thể không được ghi nhận và hưởng lợi. Bảo vệ di sản không chỉ là bảo vệ hiện vật, mà còn là bảo vệ quyền, phẩm giá và sinh kế của những con người đang gìn giữ di sản.

2.jpg
“Văn hóa soi đường” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

Chủ quyền văn hóa cũng không thể được củng cố chỉ bằng việc yêu cầu công chúng sử dụng sản phẩm trong nước. Sản phẩm văn hóa Việt Nam phải đủ chất lượng, tiện lợi và hấp dẫn để công chúng tự nguyện lựa chọn.

Điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, hoạt hình, trò chơi điện tử, thời trang, thiết kế và nội dung số chính là những phương tiện giúp giá trị Việt Nam hiện diện trong đời sống hằng ngày. Khi Việt Nam có những tác phẩm hay, những câu chuyện giàu cảm xúc và những sản phẩm cạnh tranh được trên thị trường, chúng ta không chỉ phát triển kinh tế mà còn mở rộng không gian văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia.

Vì vậy, đầu tư cho công nghiệp văn hóa cũng là đầu tư cho an ninh văn hóa. Một thị trường sáng tạo lành mạnh tạo việc làm cho nghệ sĩ, khuyến khích tài năng, bảo vệ bản quyền và tạo ra nguồn nội dung tích cực để công chúng lựa chọn. Ngược lại, khi người sáng tạo không thể sống bằng nghề và doanh nghiệp không nhìn thấy khả năng thu hồi vốn, khoảng trống nội dung sẽ nhanh chóng bị lấp đầy bởi những sản phẩm dễ dãi hoặc hoàn toàn phụ thuộc vào bên ngoài.

Tạo dựng thế trận an ninh văn hóa từ lòng dân

An ninh văn hóa không thể là công việc riêng của ngành văn hóa hay lực lượng Công an. Đây phải là một cấu trúc quản trị đa chủ thể, trong đó Nhà nước kiến tạo thể chế; lực lượng Công an bảo vệ an ninh, trật tự và đấu tranh với vi phạm pháp luật; doanh nghiệp chịu trách nhiệm về công nghệ và sản phẩm; báo chí bảo vệ sự thật; nghệ sĩ sáng tạo những giá trị mới; nhà trường bồi dưỡng năng lực văn hóa; cộng đồng bảo vệ di sản; mỗi công dân trở thành một chủ thể văn hóa có trách nhiệm.

Ở cấp cơ sở, chính quyền xã, phường cần coi môi trường văn hóa là một tiêu chí của chất lượng quản trị, không phải một hoạt động phong trào. Những dấu hiệu như bạo lực gia đình, bạo lực học đường, mê tín trục lợi, ứng xử thiếu văn hóa, sự mai một của di sản hay tin giả gây hoang mang trong cộng đồng phải được phát hiện và xử lý ngay từ cơ sở.

8bc65199-d336-459f-84a5-6dc805dfc5d9.jpg
Chủ động bám sát từ cơ sở, tạo đồng thuận.

Công an cơ sở, tổ dân phố, nhà trường, gia đình, các đoàn thể và người có uy tín trong cộng đồng cần hình thành mạng lưới phối hợp thường xuyên. Cách làm hiệu quả không phải là tổ chức thật nhiều cuộc tuyên truyền hình thức, mà là cung cấp cho người dân những kỹ năng thiết thực: kiểm chứng thông tin ở đâu, báo tin cho cơ quan nào, nhận biết deepfake ra sao, bảo vệ trẻ em thế nào và xử lý như thế nào khi danh dự, hình ảnh hay tác phẩm bị xâm phạm.

Một “thế trận an ninh văn hóa” vững chắc phải bắt đầu từ lòng dân, từ niềm tin xã hội và sự đồng thuận đối với những giá trị chung. Khi người dân không chỉ là đối tượng được bảo vệ mà trở thành chủ thể tham gia bảo vệ môi trường văn hóa, các nguy cơ sẽ được nhận diện sớm hơn, xử lý nhanh hơn và ít có điều kiện lan rộng.

Quản trị an ninh phi truyền thống trên lĩnh vực văn hóa vì thế cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước. Văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần được bảo vệ trước các nguy cơ, mà còn là nguồn lực trực tiếp tạo ra an ninh. Một xã hội có nền tảng đạo đức vững chắc, tôn trọng pháp luật, đề cao sự thật, nhân ái, trách nhiệm và tinh thần cộng đồng sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn trước mọi biến động.

8bc65199-d336-459f-84a5-6dc805dfc5d9.jpg
Công tác tuyên truyền là khâu đột phá, tạo nền tảng quan trọng để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ.

Mục tiêu cuối cùng không phải tạo ra một đời sống văn hóa im lặng vì sợ sai, mà là một đời sống văn hóa sinh động, sáng tạo, có kỷ cương và giàu bản lĩnh. Không phải đóng cửa trước những ảnh hưởng bên ngoài, mà là đủ tự tin để hội nhập, đối thoại và làm giàu thêm bản sắc dân tộc. Không chỉ phòng ngừa những nguy cơ đang hiện hữu, mà còn phải tạo dựng năng lực văn hóa đủ mạnh để đất nước đi xa trong một thế giới nhiều biến động.

Khi mỗi người dân có “la bàn” về giá trị, mỗi cộng đồng có sức đề kháng, mỗi thiết chế thực hiện đúng trách nhiệm và mỗi sản phẩm văn hóa tốt đẹp có cơ hội lan tỏa, chúng ta sẽ hình thành được một nền an ninh văn hóa chủ động, nhân văn và bền vững. Đó chính là cách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trên một mặt trận không tiếng súng, nhưng có ý nghĩa đặc biệt đối với tương lai dân tộc.

PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Các tin khác

Bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, đổi mới sáng tạo nhưng không để lợi dụng chính sách

Bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, đổi mới sáng tạo nhưng không để lợi dụng chính sách

Đa số các đại biểu thống nhất việc ban hành Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng về khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Thủ tướng nêu ba yêu cầu lớn với ngành ngoại giao

Thủ tướng nêu ba yêu cầu lớn với ngành ngoại giao

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với sứ mệnh bứt phá, tăng tốc và nỗ lực, quyết tâm thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm và tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nêu lên ba yêu cầu lớn với ngành ngoại giao và một số nhóm nhiệm vụ trọng tâm đối với công tác ngoại giao phục vụ phát triển

Kỳ 1: Những “mặt trận vô hình” của an ninh văn hóa

Kỳ 1: Những “mặt trận vô hình” của an ninh văn hóa

Có những mối đe dọa không xuất hiện bằng tiếng súng, không mang hình hài của một cuộc xung đột trực diện, song lại âm thầm tác động đến hệ giá trị, niềm tin, bản sắc, ký ức cộng đồng và khả năng tự chủ văn hóa của một quốc gia...

Khoa học công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng chính

Khoa học công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng chính

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng mới, quan trọng của nền kinh tế. Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chủ động khai thác tối đa nguồn lực, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng lực tự chủ dựa trên các động lực này, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

Đại biểu Quốc hội đề nghị cần cấm kinh doanh bóng cười nhằm mục đích giải trí

Đại biểu Quốc hội đề nghị cần cấm kinh doanh bóng cười nhằm mục đích giải trí

Các đại biểu Quốc hội tán thành chủ trương cấm kinh doanh khí N₂O (bóng cười) để sử dụng cho con người ngoài mục đích hợp pháp, song đề nghị làm rõ trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi cung ứng và hoàn thiện điều khoản chuyển tiếp nhằm bảo đảm khả năng thực thi, tránh gây rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp.

Cân bằng kiểm soát rủi ro với tạo thuận lợi, khuyến khích đầu tư, kinh doanh

Cân bằng kiểm soát rủi ro với tạo thuận lợi, khuyến khích đầu tư, kinh doanh

Chủ tịch Quốc hội yêu cầu, cần rà soát kỹ sự cần thiết của từng ngành, nghề trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro đối với cộng đồng. Đồng thời, xem xét khả năng thay thế điều kiện đầu tư kinh doanh bằng các công cụ quản lý khác như quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.

Giải đáp nhiều vấn đề về ổn định kinh tế vĩ mô và sắp xếp thôn, tổ dân phố

Giải đáp nhiều vấn đề về ổn định kinh tế vĩ mô và sắp xếp thôn, tổ dân phố

Kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, nhiều chỉ tiêu quan trọng đạt và vượt kế hoạch. Cùng với đó, hàng loạt vấn đề liên quan đến sắp xếp đơn vị hành chính, an sinh xã hội và công tác quản lý nhà nước đã được các bộ, ngành giải đáp tại buổi Họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026.

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải

Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải

Với 484 đại biểu tham gia biểu quyết, trong đó có 483 đại biểu tán thành (bằng 96,60% đại biểu Quốc hội có mặt), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhiệm kỳ 2026 - 2031 đối với ông Nguyễn Tiến Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

Báo cáo Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Báo cáo Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Sáng ngày 3/8, sau nghi thức khai mạc Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đã trình bày tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (dự án Luật).