Việc “khoán trắng” cho chủ đầu tư chịu trách nhiệm toàn bộ từ khảo sát, thiết kế, xây dựng, vận hành đập, theo các chuyên gia thủy lợi, là việc làm sai lầm. Vì lợi nhuận, trong khi năng lực hạn chế, không có chuyên môn về thủy điện, nhiều chủ đầu tư không đủ trình độ để giám sát quá trình thi công dẫn đến chất lượng công trình không đảm bảo, đó là chưa kể yếu tố “cố tình” để tiết giảm chi phí.
Giao trách nhiệm quá lớn cho chủ đầu tư
Giáo sư Nguyễn Văn Lệ - người đã có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực kết cấu nói chung và kết cấu công trình thuỷ lợi thuỷ điện nói riêng, đã từng tham gia tính toán kết cấu và thẩm định cho nhiều công trình thuỷ điện lớn như Yaly, Sơn La, Tuyên Quang, Lai Châu... và cũng đã từng tư vấn cho một số công trình thủy điện nhỏ cho biết: Hầu hết các công trình thủy điện đã xây dựng đang vận thường, nhưng ở công trình này hoặc khác, vào thời điểm này hoặc khác có các biểu hiện hư hỏng cục bộ, ví dụ nứt nẻ, thẩm lậu... và cũng đã được các đơn vị quản lý phát hiện, mời các đơn vị tư vấn đến xử lý. Bản thân tôi đã được mời đến một số công trình có những hư hỏng để đánh giá nguyên nhân và đề xuất các giải pháp khắc phục. Số công trình có các sự cố lớn như vỡ đập, nổ đường ống áp lực là không nhiều.
Cần chú ý rằng, công trình cũng như một cỗ máy, nhưng lại phức tạp hơn ở chỗ kích thước thường lớn nên khó kiểm soát trong quá trình chế tạo (xây dựng), vật liệu sử dụng để xây dựng công trình là đất, đá hoặc bê tông nên không thể đồng đều như kim loại dùng để chế tạo máy. Đặc biệt là công trình luôn dính liền với nền, mặc dù có khoan khảo sát trước khi thiết kế và xây dựng nhưng dưới nền vẫn tiềm ẩn nhiều bí ẩn mà nhiều khi con người không lường trước được. Nhưng nếu thiết kế được xét duyệt cẩn thận, xây dựng được giám sát chu đáo, nghiệm thu được tiến hành chặt chẽ thì khi vận hành sẽ ít hư hỏng, sự cố” – GS Nguyễn Văn Lệ khẳng định.
Điều đáng nói là ở chỗ, từ nhiều năm nay, an toàn đập hoàn toàn phó mặc cho chủ đầu tư, từ Chứng nhận đủ điều kiện an toàn chịu lực, Kiểm tra đảm bảo đủ điều kiện an toàn chịu lực, Chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng... theo Thông tư số 16, ban hành năm 2008 của Bộ Xây dựng; đến việc nghiệm thu để đưa vào khai thác sử dụng đập cũng “do chủ đầu tư quyết định, trừ đập do Hội đồng nghiệm thu Nhà nước thực hiện” – theo như Thông tư Quy định về việc Quản lý an toàn đập thủy điện được Bộ Công thương ban hành tháng 10/2010. Việc đăng ký an toàn đập, chế độ báo cáo hiện trạng đập cũng một tay chủ đầu tư tự làm tự chịu trách nhiệm. Đây là một sự giao phó đầy rủi ro, bởi các chủ đầu tư thủy điện nhỏ hầu hết đều không có chuyên môn về thủy điện và đương nhiên hầu hết chỉ hướng đến lợi nhuận, các báo cáo chỉ làm cho có.
“Chủ đầu tư nào, dù là nhà nước hay tư nhân thì cũng muốn tiết kiệm chi phí khảo sát thiết kế và chi phí xây dựng... Quan trọng hơn cả là mức độ nhận thức về an toàn công trình ở các chủ đầu tư cũng rất khác nhau. Cũng có những chủ đầu tư chưa nhận thức được đúng mức nên có ý muốn cắt giảm hạng mục này hoặc hạng mục kia, hoặc lơ là trong việc giám sát thi công... Bởi vậy, rất cần sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan nhà nước trong việc thẩm định hồ sơ thiết kế, thanh kiểm tra các hoạt động giám sát xây dựng, nghiệm thu. Trách nhiệm của cơ quan quản lý là buộc các chủ đầu tư phải tôn trọng và tuân thủ qui trình, qui phạm” – GS Nguyễn Văn Lệ nhấn mạnh.
Rất ít chủ đầu tư đủ năng lực làm thủy điện
Theo GS Phạm Hồng Giang - Chủ tịch Hội Đập lớn Việt Nam, việc giao cho chủ đầu tư chịu trách nhiệm toàn bộ công trình chính là một lỗ hổng về quản lý. Mục đích của chủ đầu tư là lợi nhuận, hễ nơi nào có nguồn thủy năng là chặt rừng, ngăn sông suối xây đập, bất chấp những ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, sinh kế. Chủ đầu tư cũng bị áp lực về tiến độ, lợi nhuận chi phối, do đó sẽ chỉ quan tâm tới việc làm sao để hoàn thành nhanh nhất và rẻ nhất, chưa quan tâm đúng mức tới vấn đề đền bù, tái định cư cho người dân vùng ảnh hưởng. An toàn đập là rất hệ trọng đòi hỏi chủ đầu tư phải nghiêm túc và thận trọng trong tất cả các khâu từ qui hoạch, khảo sát đến thiết kế, thi công và quản lý. Người đảm nhiệm những công việc đó phải có ý thức trách nhiệm cao, am hiểu chuyên môn. Trong khi đó, các thủy điện vừa và nhỏ, chủ đầu tư chưa đảm bảo được yêu cầu khắt khe này.
TS Đào Trọng Tứ - nguyên Phó Tổng thư kí Ủy ban sông Mê Kông khẳng định, Việt Nam có rất ít đơn vị có năng lực làm thủy điện. Ngoài EVN có kinh nghiệm, còn lại chủ yếu là các đơn vị nhỏ, thậm chí tư nhân, thiếu kiến thức chuyên môn, năng lực tài chính, đầu tư chỉ đơn giản vì mục đích lợi nhuận.
Nhiều dự án thủy điện nhỏ được các địa phương cấp phép quá dễ dãi.
Dự thảo quy định mới tiếp tục buông lỏng quản lý
Theo quy định hiện nay của Bộ Công thương, các đập thủy điện vẫn có định kỳ kiểm định chất lượng. Kiểm định lần đầu được thực hiện trong năm thứ 2 tính từ ngày hồ chứa tích nước lần đầu. Hồ chứa có dung tích lớn hơn 10 triệu m3, định kỳ không quá 10 năm phải kiểm định đập. Với hồ chứa có dung tích nhỏ hơn 10 triệu m3, định kỳ kiểm tra là không quá 7 năm. Dù định kỳ kiểm tra rất lâu như vậy, nhưng đến giờ mới có 22/66 đập đến hạn đã hoàn thành kiểm định. Điều này phần nào nói lên sự chủ quan của cả cơ quan quản lý và các chủ đập.
Đáng nói hơn, trong Dự thảo Quy định về quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện mới nhất của Bộ Công thương đang được lấy ý kiến, việc giám sát, thẩm định, nghiệm thu công trình thủy điện vẫn tiếp tục được đặt lên vai chủ đầu tư, dù hậu quả của việc buông lỏng quản lý vẫn đang phải từng ngày trả giá.
| GS Vũ Trọng Hồng – Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi: “80 – 90% hồ đập nhỏ cần đưa vào chương trình an toàn để kiểm tra” “Các hồ đập nhỏ đã xây dựng nhiều năm xuống cấp rất nghiêm trọng. Mặt khác, những đập đang hoặc sẽ xây dựng về hệ số an toàn cũng rất nhỏ. Nói một cách tổng quát, khoảng 80 - 90% hồ đập nhỏ cần đưa vào chương trình an toàn để kiểm tra đánh giá. Điều đặc biệt, trong vòng 10 năm nay, thủy điện vừa và nhỏ chủ yếu xây dựng ở miền Trung, nơi có địa hình, địa chất, thủy văn có thể gặp nhiều rủi ro so với các vùng khác như miền núi phía Bắc… Bài học từ sự cố đập ở thủy điện Sông Tranh 2, Đăk Rông 3, nếu nhìn một cách nghiêm túc, là sai lầm từ chủ trương huy động tư nhân vào phát triển thủy điện nhỏ đến bước đi vội vàng về quy hoạch, sử dụng tùy tiện những tiêu chuẩn kỹ thuật của nước ngoài… Nói một cách khác, nhà nước đã khoán trắng cho EVN, thực chất chỉ là nhà đầu tư lớn, chưa có nhiều kinh nghiệm, lực lượng khoa học kỹ thuật, cơ sở vật chất kỹ thuật… đều yếu, chủ yếu thuê các ngành khác do vậy dẫn đến nhiều sai lầm, thậm chí chỉ trong khoảng 10 năm tới hàng loạt công trình sẽ có sự cố nghiêm trọng phải xử lý tốn kém hoặc ngừng hoạt động”. |
| GS Nguyễn Văn Lệ: “Ngoài xiết chặt các khâu thiết kế và xây dựng, còn phải kiểm soát chặt chẽ khâu quản lý” “Điều cần nhấn mạnh là, nếu công trình thủy lợi hoặc thủy điện có sự cố, đặc biệt là sự cố vỡ đập thì là một thảm họa, thiệt hại gây ra sẽ rất lớn và trên diện rộng. Thế giới đã từng chứng kiến những thảm họa này, ngay ở cả những nước phát triển. Do vậy an toàn đập là vấn đề cần hết sức coi trọng. Thực tế cho thấy có những đập chưa được chú trọng an toàn đúng mức. Ví dụ thuỷ điện Hố Hô ở Hà Tĩnh chẳng hạn. Năm 2010, khi lũ về thì lại không mở được cửa van, nên nước tràn qua đập, may là đập vẫn còn chịu được, nếu vỡ đập thì là một thảm họa. Để hạn chế rủi ro và thiệt hại, tôi nghĩ ngoài việc phải siết chặt các khâu thiết kế và xây dựng, còn phải kiểm soát chặt chẽ khâu quản lý. Cần định kỳ kiểm tra các công trình để sớm phát hiện các hiện tượng hư hỏng, nhanh chóng tìm hiểu nguyên nhân và kịp thời có biện pháp khắc phục...”. |