Hội thảo văn học Việt Nam - Hoa Kỳ sau chiến tranh: Nhiệm vụ của lương tâm

Một sự kiện văn hoá đặc biệt diễn ra trong những ngày đầu tiên của tháng 6 này là Hội thảo Văn học Việt Nam - Hoa Kỳ sau chiến tranh diễn ra tại Hà Nội.

Sức mạnh hoà giải của văn học

Với mục đích phân tích, đánh giá sứ mệnh của văn học Việt Nam và vai trò to lớn của các nhà văn Mỹ thông qua Trung tâm William Joiner trong việc truyền bá văn học Việt Nam đến Mỹ trong suốt mấy chục năm qua, nhằm tăng cường sự hiểu biết của công chúng Mỹ với con người và đất nước Việt Nam, góp phần hóa giải những hận thù giữa hai dân tộc, tiến tới một tương lai tốt đẹp, hội thảo đã thu hút sự tham gia của 150 đại biểu, trong đó có nhiều văn nghệ sĩ, trí thức đến từ hai nước Việt - Mỹ. Trường đại học Văn hóa Hà Nội là đơn vị chủ trì cuộc hội thảo. 

Với chức năng nghiên cứu về hậu quả chiến tranh, ngay từ những năm 80, những người điều hành của Trung tâm Wiliam Joiner (Đại học Massachusetts, Boston - Mỹ) đã đến Việt Nam và nhanh chóng nhận ra rằng, văn hóa nói chung và văn học nói riêng chính là một con đường tốt đẹp cho sự hòa giải giữa hai dân tộc. Biết bao khó khăn cho một buổi đầu tưởng chừng như bế tắc, khi Việt Nam vẫn là một quốc gia phải chịu lệnh cấm vận của Mỹ. Nhưng, những tác phẩm văn học Việt Nam đầu tiên đã đến với công chúng Mỹ nhờ tình yêu và lòng nhiệt tình của một số giáo sư, nhà văn, dịch giả của Trung tâm William Joiner.

Các nhà văn Việt Nam - Hoa Kỳ cùng ký vào tấm áp phích đêm thơ "Chơi bóng rổ với Việt Cộng".
Các nhà văn Việt Nam - Hoa Kỳ cùng ký vào tấm áp phích đêm thơ "Chơi bóng rổ với Việt Cộng".

Không chỉ có thế, những nhà văn Việt Nam đầu tiên đã được mời đến Mỹ, như là những sứ giả đầu tiên của một nền văn học đi tìm kiếm tiếng nói hòa bình, yêu thương và lòng nhân ái giữa hai dân tộc. Nhà văn Lê Lựu là nhà văn "cộng sản" Việt Nam đầu tiên đến Mỹ. Sau Lê Lựu là nhiều nhà văn, nhà thơ khác như Nguyễn  Quang Sáng, Nguyễn Khải, Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Đỗ Chu, Lê Minh Khuê, Nguyễn Quang Thiều, Trần Anh Thái, Lâm Thị Mỹ Dạ... Sự xuất hiện của họ trên đất Mỹ, cùng với những cuộc hội thảo, thuyết trình, đọc tác phẩm, đã từng bước giúp cho những người Mỹ thêm hiểu về Việt Nam , xóa đi những hiềm khích, hiểu lầm trong lòng những Việt kiều ở Mỹ.

Tràn đầy một tình yêu thương, sự cảm thông, gắn bó là cảm nhận chung về những người bạn văn nghệ sĩ của hai nước tại Hội thảo này. Những câu chuyện buồn có, vui có, ngậm ngùi cũng có đã được họ kể lại. Hai mươi năm là một quãng thời gian đủ dài để thấu hiểu những khó khăn họ đã đi qua để nhẫn nại xây một cây cầu hữu nghị bằng văn hóa. Những người bạn nhà văn ở Trung tâm William Joiner hầu hết là những cựu binh trở về từ cuộc chiến tranh Việt Nam, với ám ảnh quá khứ đè nặng, đã quyết tâm đi trên con đường khó khăn ấy để tìm thấy sự bình yên trong chính tâm hồn mình và cũng chính là để hàn gắn những vết thương đau mà họ biết rằng còn đang hiện diện mỗi ngày trên đất nước Việt Nam, cho dù chiến tranh đã kết thúc. Nói như nhà thơ Nguyễn Duy thì đó còn là một "nhiệm vụ của lương tâm".

Nhà thơ Hữu Thỉnh, trong bài phát biểu của mình, ngoài việc nhấn mạnh những đóng góp của văn nghệ sĩ hai nước trong quá trình hòa giải giữa hai dân tộc, đã không quên nhắc về những nạn nhân chất độc da cam, để nói rằng, nước mắt vẫn còn đó, cho dù đã hết đạn bom. Ông mong rằng, các nhà văn hai nước, những người nhân danh lương tâm của nhân dân có thể làm nhiều hơn nữa để xoa dịu những nỗi đau này. Đó cũng là một mệnh đề không nằm ngoài câu chuyện văn học.

Hoà giải và hội nhập bằng văn hoá (phỏng vấn nhà văn Đỗ Chu)

- Thưa nhà văn Đỗ Chu, là thành viên tham dự Hội thảo Văn học Việt Nam - Hoa Kỳ sau chiến tranh, lắng nghe những ý kiến, những câu chuyện của các nhà văn, nhà thơ, các trí thức đến từ hai nước, ông đánh giá thế nào về sức mạnh của văn hóa nói chung và văn học nói riêng trong việc hóa giải những bất đồng, hận thù giữa hai dân tộc?

+ Hành trình 20 năm qua là một chặng đường đòi hỏi các nhà văn cả hai nước Việt - Mỹ đều phải có một cái nhìn vừa dũng cảm lại vừa có tầm văn hóa. Nhà văn, GS Kevin Bowen là một minh chứng cụ thể. Ngay từ lần đầu tiên trở lại Việt Nam, khi quan hệ hai nước còn nhiều căng thẳng, Kevin Bowen đã một mình đi trên đường phố Hà Nội, Sài Gòn, không phải như những người Mỹ thông thường, mà như một nhà thơ lớn của ngày mai, một trí thức, một trí tuệ với đầy khát vọng tốt đẹp cho con người của cả hai nước, cho một Việt Nam nhiều nếm trải mà tự bản thân ông ấy thấy mình phải chịu trách nhiệm, sau đó là nước Mỹ. Và Kevin đã tìm đến với các nhà văn Việt Nam, đó là những cuộc gặp gỡ tiếp nối mỗi ngày một thêm cởi mở và tin cậy.

Tôi đánh giá cao những lần gặp ban đầu của các nhà văn hai nước. Đó là những bước đi táo bạo của những con người táo bạo, để nhận chân ra trách nhiệm sống của mình, cũng như trách nhiệm của văn học nghệ thuật. Và chúng ta cùng nhận thức rằng, tiếng nói của văn học nghệ thuật lợi hại ở chỗ, nó có thể thay cho súng gươm, bom đạn, và có thể làm thay đổi những tình thế tưởng như khó có thể vượt qua.

- Là nhà văn đã từng đến Mỹ, tham dự các hội thảo về văn học, nói chuyện với công chúng Mỹ, ông nhận thấy sự quan quan tâm của người Mỹ dành cho các nhà văn và văn học Việt Nam như thế nào?

+ Bản thân tôi có trong danh sách các nhà văn cựu chiến binh Việt Nam tham dự cuộc gặp mặt đầu tiên với các nhà văn Mỹ. Trưởng đoàn phía Mỹ, không ai khác, chính là nhà thơ Kevin Bowen. Nhưng cuối cùng tôi vắng mặt vì phải đi công tác gấp ở Đông Âu. Đến những cuộc gặp gỡ lần sau, khi thì ở ta, khi thì ở Mỹ tôi mới có cơ hội được tham dự. Có một chuyến sang Mỹ tôi là trưởng đoàn. Ấn tượng chung là vui mừng, vì qua những người cầm bút nhiều phương tiện truyền thông khác mà chính phủ và nhân dân hai nước có thêm niềm tin và hy vọng để đi đến sự hiểu biết và hội nhập.

- Từ cuộc hội thảo này, với tư cách là một người cầm bút, ông nhìn nhận thế nào về tương lai hợp tác và phát triển của hai nước, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa, văn học?

+ Tôi cho rằng, từ cuộc gặp gỡ tại Hà Nội năm 2010 này, tôi tin rằng nhân dân hai nước sẽ gần gũi nhau thêm. Trong gần một thế kỷ qua, đất nước ta đã gặp không ít thử thách gian nan, văn học cách mạng luôn gắn bó với vận mệnh của dân tộc. Và như chị thấy đấy, các nhà văn đến sau luôn biết tiếp nối một cách kiêu hãnh bước đi của những thế hệ trước. Trong quá khứ, chúng ta đã có nhiều bạn bè văn học tin cậy ở nhiều nước trên thế giới, và chúng ta cần phải biết tiếp tục duy trì những tình cảm quý báu đó.

Nay chúng ta lại có những người bạn lớn đến từ Trung tâm William Joiner và trong tương lai không xa, như cái đích lớn của cuộc hội nhập và đổi mới mà cả nước đang đồng lòng đi tới, văn học cũng đang chuẩn bị sức vóc để nối những nhịp cầu anh em với tất cả các nền văn hóa khác nữa.

- Xin cảm ơn nhà văn Đỗ Chu.--PageBreak--

Văn học kết nối chúng ta (phỏng vấn nhà thơ Kevin Bowen - Giám đốc Trung Tâm William Joiner, Đại học Massachusetts, Mỹ)

- Thưa nhà thơ Kevin Bowen, ngược dòng thời gian để quay lại thời điểm những năm 80 của thế kỷ trước, ông đã đến Việt Nam trong tâm trạng như thế nào và ông muốn tìm kiếm gì qua những chuyến đi ấy?

+ Năm 1986 tôi rời Boston để thực hiện chuyến trở lại Việt Nam lần đầu tiên sau chiến tranh. Chuyến đi này tương đối khó khăn vì lệnh cấm vận vẫn còn. Việt Nam lúc đó còn rất nghèo, thành phố chỉ toàn tiếng kêu vo vo của xe đạp, rất ít ôtô. Vào ban đêm, ánh sáng chủ yếu là những chiếc đèn dầu. Điện có rồi tắt, thất thường lắm. Tôi đã đi qua những khu vực mà tôi từng có mặt trong chiến tranh. Ở Huế, tôi đã gặp một người lãnh đạo của phong trào kháng chiến địa phương. Ông ấy nói: "Chúng ta đã từng gặp nhau như những người lính cầm súng, giờ chúng ta gặp nhau như những giáo viên cố gắng kiến tạo hòa bình. Hãy nhớ rằng ông luôn được chào đón ở đây".

Câu nói này đã khích lệ tôi quay trở lại Việt Nam vào năm 1987. Rồi đầu năm 1988 tôi lại quay trở lại Việt Nam trong chuyến đi đầu tiên của phái đoàn thuộc Trung tâm William Joiner với những chuyên gia về y tế, công cộng, bác sĩ, lịch sử, khoa học thư viện, nghệ thuật và hậu quả tâm lý xã hội của chiến tranh ở Mỹ. Cuối năm này tôi lại quay trở lại Việt Nam cùng vợ tôi, một người cũng rất yêu Việt Nam và cũng là người trong 20 năm sau đó đã mở cửa nhà chúng tôi cho rất nhiều khách Việt Nam và họ trở thành những thành viên trong gia đình chúng tôi.

- Thưa ông, vì sao Trung tâm William Joiner lại mời nhà văn Lê Lựu là nhà văn Việt Nam đầu tiên đến Mỹ?

+ Trong chuyến đi đầu tiên đến Việt Nam chúng tôi đã gặp nhà văn Lê Lựu ở một khách sạn tại Sài Gòn. Khi ấy Lê Lựu đang cùng hợp tác với Hồ Quang Minh để làm bộ phim "Thời xa vắng", bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết của ông ấy. Chúng tôi nói chuyện ở hành lang khách sạn 3 tiếng đồng hồ. Tôi nhận ra một điều rằng, mặc dù là một cựu chiến binh nhưng Lê Lựu không hề tỏ ra bực tức hay giận dữ, hận thù khi nói về chiến tranh. Ông kể những câu chuyện hết sức hấp dẫn. Ông giới thiệu chúng tôi tới trung tâm nuôi dưỡng những cựu binh tàn tật. Tôi nhận ra ông có một tâm hồn lớn, muốn lo cho những thương, phế binh. Cũng giống như những cựu binh người Mỹ chúng tôi, rất muốn được chăm sóc cho các cựu chiến binh khác. Sau Lê Lựu, theo chương trình, chúng tôi còn gặp gỡ nhiều nhà văn Việt Nam khác nữa. Khi rời khỏi Việt Nam, trên chiếc xe buýt đi ra phi trường, dưới trời mưa tầm tã, chúng tôi đã nhìn thấy Lê Lựu đứng dưới mưa, chặn xe chúng tôi lại để chào từ biệt. Rồi ông cứ đứng vẫy tay dưới mưa như vậy. Hình ảnh đó rất cảm động.

Khi về Mỹ, chúng tôi viết thư mời Lê Lựu sang Mỹ và nhờ người đích thân mang thư tới Việt Nam gặp Lê Lựu. Chuyến đi của Lê Lựu sang Mỹ khi đó rất khó khăn, vất vả. Chúng tôi đã phải nhờ tới sự can thiệp của một người bạn mình khi đó đang làm việc ở Bộ Ngoại giao Mỹ. Tiểu thuyết "Thời xa vắng" của Lê Lựu là cuốn sách đầu tiên chúng tôi dịch và là bản dịch đầu tiên của Việt Nam nhận được tài trợ từ Quỹ Quốc gia vì nghệ thuật.

- Văn học chân chính ở đâu cũng vậy, luôn hướng về cái đẹp, ca ngợi tình thân ái giữa con người với con người, bất kể màu da, chủng tộc, biên giới. Trong hai mươi năm qua, ông và các đồng sự của ông ở Trung tâm William Joiner đã làm được rất nhiều việc cho tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ, thông qua văn hóa, văn học. Nhớ lại những ngày đầu tiên ấy, ông đã tin tưởng vào điều gì khi lựa chọn con đường đi khó khăn, gian nan như vậy, mà không phải là những con đường khác, cách đi khác dễ dàng hơn?

+ Tôi cho rằng, với nhiều người lính Mỹ trở về sau chiến tranh, Việt Nam là một sự mất mát trong tâm hồn họ. Thực sự là với họ thì chiến tranh chưa kết thúc. Trong chuyến trở lại Việt Nam lần đầu tiên vào những năm 80, tôi đã định hướng sự quan tâm của mình vào các vấn đề khác của Việt Nam như hậu quả chiến tranh, nạn nhân chất độc da cam, chấn thương tâm lý... Nhưng rồi tôi đã được gặp rất nhiều nhà văn Việt Nam. Sự rộng lượng của họ đã làm tôi kinh ngạc. Những cuộc hội thảo văn học được diễn ra ở hai nước đã là những điểm kết nối các văn nghệ sĩ Việt Nam và Mỹ.

Tôi đã may mắn được đón nhiều nhà văn Việt Nam trở thành khách quý của gia đình mình. Họ chia sẻ cùng tôi những giây phút tĩnh lặng trong vườn, cùng nấu ăn và nhìn hoa nở. Đỗ Chu đã từng vẽ chân dung mọi người. Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Tô Nhuận Vỹ đã thay nhau bế đứa con mới sinh Lily của tôi. Từ khi có thể tự bước đi những bước đầu tiên, con trai tôi đã chơi bóng rổ ở sân sau với Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khải, Phạm Tiến Duật và nhiều nhà văn Việt Nam khác. Khi được giáo viên lớp 1 hỏi quốc tịch là gì, con trai tôi đã nói rằng cháu có một nửa quốc tịch là Ireland và một nửa là Việt Nam. Có quá nhiều kỷ niệm...

Trong nhiều năm, những chuyến đi của các nhà văn Việt Nam tới  Mỹ mang ý nghĩa "hồi phục" cho chúng tôi rất lớn. Nhìn thấy bạn bè, nghe nhạc, nghe thơ, thăm đền chùa, thắp hương, nhìn con của những người bạn lớn lên, và bạn bè trở thành ông bà; nghe bạn bè nói về đất nước chúng tôi, về cái đúng, cái sai... Việt Nam đã trở thành một nơi giống như để hành hương. Tôi không chắc là chúng tôi tìm kiếm cái gì. Có thể là sự hiểu nhau. Hòa bình. Tình yêu. Sự mở mắt.

Mang văn học Việt Nam đến Mỹ, thông qua hoạt động của Trung tâm William Joiner, đối với tôi không phải là một công việc to lớn, một sự hợp tác giữa các chính phủ. Đó đơn giản chỉ là sự hợp tác giữa những con người. Nhưng rất mừng là chính phủ hai nước đã đi theo tinh thần đó của chúng tôi. Tôi cho rằng, với những đóng góp của mình, các nhà văn Việt Nam và các nhà văn Mỹ đã thực sự làm thay đổi lịch sử. Tôi nhớ rất rõ ngày Mỹ tuyên bố xóa bỏ cấm vận Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Duy đang ở Mỹ. Cũng ngày hôm đó thơ của ông được xuất hiện trên một tờ báo lớn của nước Mỹ. Bằng văn học, chúng ta đã thực sự làm được nhiều việc trong 20 năm qua, nhưng hãy nghĩ con đường ấy mới chỉ là bắt đầu.

- Xin cảm ơn nhà thơ Kevin Bowen.

Đến Mỹ, chơi bóng rổ với nhà thơ Mỹ (ghi theo lời kể của nhà văn Nguyễn Quang Sáng)

Với tôi, cuộc hội thảo Văn học Việt Nam - Hoa Kỳ lần này mang một ý nghĩa rất tuyệt vời. Chúng ta là công dân của một nước nhỏ. Nền văn học của chúng ta, so với nền văn học Mỹ cũng là rất nhỏ. Nhưng chúng ta có bản sắc riêng. Chúng ta sẽ không dễ dàng trả lời cho câu hỏi văn học nước mình đi ra thế giới bằng cách nào đây? Thật may là chúng ta có những người bạn văn chương quý từ nhiều nơi trên thế giới, trong số đó có những người bạn đến từ Trung tâm William Joiner. Với tôi, đây chính là một cánh cửa rộng để văn học Việt Nam đến với bạn đọc thế giới. Những người bạn ở đây, những GS, nhà văn, dịch giả như Kevin Bowen, Bruce Weigl, Fred Marchant, Martha Collin, Nguyễn Bá Chung... đã và đang giúp chúng ta làm một công việc lâu dài và đầy hứa hẹn. Như các bạn đã biết, cho dù một người Việt giỏi tiếng Anh bao nhiêu đi nữa thì khi dịch một tác phẩm văn học Việt Nam cũng rất cần đến sự hiệu đính của những người bạn Mỹ. Và chúng ta đang có được một sự hợp tác ăn ý, nhịp nhàng giữa các nhà văn hai nước, thông qua Trung tâm William Joiner.

Mùa hè năm 1989 tôi sang Mỹ, đến Boston dự cuộc hội thảo "Nhìn chiến tranh từ hai phía" với các nhà văn, nhà thơ cựu chiến binh Mỹ. Người đầu tiên tôi gặp là nhà thơ Kevin Bowen. Tôi đã đến ở luôn trong nhà anh. Vốn là một cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam, trở về từ chiến trường Tây Ninh, Kevin Bowen là tác giả bài báo "Một cuộc chiến tranh khác trong lương tâm người Mỹ". Kevin Bowen, cũng như nhiều nhà văn Mỹ khác, họ rất nhiệt tình, cho dù họ chưa biết nhiều về văn học Việt Nam. Thật tuyệt vời khi nghĩ lại hình ảnh đẹp, là chúng tôi, những nhà văn cựu chiến binh Việt Nam lại đến ở trong ngôi nhà của một nhà văn cựu chiến binh Mỹ. Chúng tôi đã từng một thời ở hai chiến tuyến. Chúng tôi chơi bóng rổ cùng nhau ở sân sau nhà Kevin.

Trước đó tôi chưa từng chơi bóng rổ. Nhưng tôi là dân chơi bóng bàn, nên bóng rổ không khó đối với tôi. Kevin thì cao lớn, nhưng anh không thắng được tôi. Không phải anh nhường tôi đâu, mà vì thực sự anh không chơi tốt môn bóng rổ. Chúng tôi đã cùng cười vui. Sau đó, Kevin có làm một bài thơ nhan đề "Chơi bóng rổ với Việt Cộng". Như Kevin đã nói, bài thơ này không chỉ nói về tình hữu nghị mà còn là thông điệp rằng chúng ta có thể giải quyết những sự cố trong đời sống theo một cách khác, hơn là phải dùng đến chiến tranh. Bài thơ này đã trở nên rất nổi tiếng. Tập thơ "Chơi bóng rổ với Việt Cộng" cũng là một trong những tập thơ nổi tiếng nhất của Kevin. Từ những cuộc gặp gỡ như vậy, không chỉ với Kevin Bowen mà còn với nhiều nhà văn, dịch giả, độc giả Mỹ khác nữa, tôi nhận ra rằng văn hóa chính là một phương cách tốt nhất để mở đường cho sự hòa hợp giữa hai nước, xóa bỏ đi những hận thù của quá khứ để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn

Thực hiện chuyên đề: Bình Nguyên Trang

Các tin khác

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Tin vui cho những nghệ sĩ âm nhạc dân tộc Việt Nam là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt đề án xây dựng Dàn nhạc Dân tộc Quốc gia Việt Nam vào ngày 22/4/2026 với quyết tâm triển khai ngay trong năm nay và dự kiến tổng kết vào năm 2031. Đây là một quyết định đúng đắn (dù hơi muộn) và cho thấy rõ chủ trương đầu tư cho phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện tại.

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đẩy mạnh việc quảng bá, giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu thuộc các loại hình ca múa nhạc, kịch nói, cải lương, hát bội, xiếc, múa rối.

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Nỗi sợ lớn nhất của tôi là gì? Là không gì cả. Phần lớn thời gian của tôi được dành để nỗ lực chứng minh rằng mình đáng được nhớ đến. Làm việc chăm chỉ hơn, mơ lớn hơn, nói “có” với những cơ hội - kể cả khi chúng vắt kiệt mình.

Kiến tạo văn hóa số

Kiến tạo văn hóa số

Người viết cho rằng: AI tạo sinh có thể cắt ghép, được dựng nên những hiện thực chưa từng có theo ý muốn của chúng ta. Giờ đây, thay vì nheo mặt để nhận diện tem mác, dấu hiệu hàng fake trên hàng hóa thì đến lúc đắn đo trước những tác phẩm: Liệu bài thơ này, bản nhạc kia, bức tranh nọ... có dấu hiệu can thiệp của AI hay không? Chúng ta sống với AI hay chúng ta sống bằng AI? Một câu hỏi khó trả lời.

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Trong tháng 3/2026 vừa qua, số lượng các bản ghi âm bị từ chối phát hành qua nền tảng Tunecore của Công ty Believe đột nhiên tăng vọt. Và, tất cả những bản phát hành bị từ chối ấy đều có một điểm chung: đó là những bản nhạc được tạo ra bởi AI.

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân đã thành công tốt đẹp vào ngày 17/4, song báo chí trong và ngoài nước vẫn tiếp tục có nhiều bài viết đặc sắc, khẳng định quan hệ truyền thống gắn bó mật thiết giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc cũng như tầm nhìn, định hướng trong việc nâng tầm kết nối chiến lược giai đoạn phát triển mới.

Mệnh lệnh của niềm tin

Mệnh lệnh của niềm tin

Hôm nay, cũng như mọi ngày, tôi dậy rất sớm, ngồi bên ly cà phê và lướt nhanh trên màn hình smartphone. Có lẽ, giờ này nhiều người cũng giống tôi tìm sự khởi đầu cho ngày mới bằng việc nhật tin tức sau một đêm - nguồn năng lượng mới từ sự trong trẻo tinh khôi của thiên nhiên và sự hào hứng của tinh thần.

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Tin vui cho giới làm phim Việt là tính đến trưa 10/4, theo thống kê của Box Office Vietnam (BOVN - trang web độc lập chuyên tổng hợp, phân tích và thống kê dữ liệu doanh thu phòng vé, số lượng vé và suất chiếu trên toàn lãnh thổ Việt Nam), phim "Hẹn em ngày nhật thực" của đạo diễn Lê Thiện Viễn đã thu về hơn 81 tỉ đồng sau khi bắt đầu công chiếu từ cuối tháng 3 và vẫn đang giữ vững vị trí đầu bảng xếp hạng doanh thu phòng vé Việt (tính theo ngày).

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Chuyện ồn ào trên mạng xã hội liên quan đến nữ ca sĩ Thiện Nhân và gia đình của cô chắc chắn là một chuyện không vui chút nào, đặc biệt là khi soi chiếu bằng các giá trị văn hóa Á Đông vốn coi trọng nền tảng tình cảm gia đình, quyến thuộc hơn là tài sản.

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

Gần đây trong tiếng Việt có từ mới “GATO” nhanh chóng trở nên phổ biến. Viết tắt của “ghen ăn tức ở”, dịch sang tiếng Tây, tương đương từ “đố kỵ” - một trạng thái cảm xúc tiêu cực, khó chịu, ghen ghét, cay cú trước thành công, danh tiếng người khác.

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Trong bối cảnh văn hóa đọc Việt Nam đang chứng kiến những chuyển động chưa từng có, một hiện tượng nổi bật là sự trỗi dậy mạnh mẽ của sách ngoại văn, đặc biệt là qua các hiệu sách độc lập (indie) có giám tuyển. Không chỉ phản ánh nhu cầu cập nhật tri thức toàn cầu của lớp độc giả trẻ, hiện tượng này còn đặt ra những câu hỏi mang tính chiến lược về con đường đưa văn chương Việt Nam ra thế giới.

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh ban hành văn bản chấn chỉnh hoạt động biểu diễn, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chấm dứt tình trạng hát nhép trên sân khấu. Việc này đã nhận được sự đồng thuận cao, không chỉ từ phía những nhà quản lý văn hóa mà cả với những người trực tiếp hoạt động biểu diễn, doanh nghiệp tổ chức biểu diễn.

AI - Tìm đâu ra người thật?

AI - Tìm đâu ra người thật?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang thay đổi cách sách đi từ tay tác giả đến bạn đọc từ khâu sáng tác và biên tập đến in ấn và marketing. Không phải ai cũng hoan nghênh sự thay đổi này, và quả thực là ngoài một số lợi ích nhất định, việc sử dụng AI tràn lan cũng đem lại nhiều vấn đề làm đau đầu các nhà xuất bản, đơn cử như việc con người để cho AI thay thế tác giả và biên dịch viên.

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Trong đám tang nhà thơ Đàm Khánh Phương tại nhà tang lễ Đức Giang hôm ấy, ngoài nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - có mặt và sau đó đọc điếu văn - tôi thấy không nhiều các nhà văn, nhà thơ khác đến đưa tiễn. Phương ít bạn, hay là khi khỏe mạnh, Phương đã có những điều làm bạn bè khó cảm thông?  

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Năm 2001, đạo diễn Steven Spielberg ra mắt bộ phim “A.I. - Artificial Intelligence”, kể về cậu bé robot David được lập trình để yêu thương vô điều kiện. Khi người mẹ nuôi bỏ rơi cậu giữa rừng, David bắt đầu hành trình 2000 năm đi tìm một ngày được sống bên bà. Khi những sinh vật tiến hóa đánh thức cậu giữa tàn tích băng giá, điều David xin không phải tri thức hay quyền năng, mà chỉ là một ngày được yêu thương.

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Động viên đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo luôn là một trong những chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Văn hóa soi đường quy hoạch

Văn hóa soi đường quy hoạch

Gần đây, có hai sự việc nhận được khá nhiều sự quan tâm của dư luận, và vẻ bề ngoài, hai sự việc ấy không hoàn toàn liên quan tới nhau nhưng sâu trong bản chất, chúng lại có một điểm chung.

Sống để kết nối yêu thương

Sống để kết nối yêu thương

Sống là để kết nối những yêu thương, bởi cuộc sống có biết bao nhiêu điều đáng yêu mà chúng ta không thể kể tên hết được. Đó là một cảm nhận của người viết có được mỗi khi quan sát và lắng nghe từng thanh âm của cuộc đời. Dẫu biết hằng ngày vẫn xuất hiện cái ác, cái xấu nhưng còn có biết bao người tốt, bao hành động cao cả.

“Cái chết” của sách bìa mềm

“Cái chết” của sách bìa mềm

Cuộc cách mạng văn học hiện đại có sự đóng góp không hề nhỏ của sách bìa mềm. Những quyển sách bìa mềm được bày bán khắp mọi nơi với giá cả phải chăng đã đưa văn học đến với tất cả mọi thành phần trong xã hội.

Quyết liệt phát triển văn hóa

Quyết liệt phát triển văn hóa

Diễn biến mới nhất của việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, do Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành ngày 7/1/2026, đó là Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đã có cuộc họp đầu tiên, trong tuần qua, với nhiều nội dung quan trọng.