Với kết quả "tuyệt hảo" như vậy, ngành giáo dục sẽ chẳng còn mục tiêu phấn đấu nữa, bởi không như những ngành khác, ngành giáo dục dù có muốn đến mấy cũng làm gì có chuyện vượt chỉ tiêu trên 100%? Gọi là thi cử mà hầu như không có học sinh nào trượt, ngoại trừ những em vì sự cố nào đó phải bỏ thi thì thi để làm gì? Hàng ngàn tỷ đồng tiêu tốn cho việc tổ chức; công sức, sự lo lắng của hàng trăm ngàn, cả triệu thầy trò xem ra chẳng để làm gì, ngoại trừ việc để tiếng thị phi cho toàn xã hội và cảm giác khôi hài ngay cả trong tâm trạng của những thầy, cô đang nặng lòng với ngành giáo dục và nghề sư phạm. Bệnh chạy theo thành tích đã hết thuốc chữa.
Tất nhiên, sự băn khoăn lo lắng là của xã hội, của các nhà giáo nặng lòng… chứ không chắc đã là tâm trạng của những nhà lãnh đạo ngành Giáo dục. Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển từng phát biểu "thi cử không nhằm đánh trượt học sinh". Bộ trưởng Phạm Vũ Luận, trước thì "chưa nghe, không biết" những chuyện tiêu cực tại Hội đồng thi Đồi Ngô (Bắc Giang), sau thì nhất quyết cho rằng phải có biện pháp xử lý đối với những học sinh đã quay clip về gian lận thi cử vì "Nếu theo quy chế về thi tốt nghiệp THPT, thì việc các cháu làm như vậy là vi phạm quy chế. Nhưng việc xử lý các cháu như thế nào cần phải cân nhắc theo hướng: Giúp các cháu nhận ra sai phạm, làm bài học và nhằm mục đích giúp các cháu trở thành người tốt". Nghe đã đầy mâu thuẫn.
Mọi phát biểu đều rất nhân văn, đều hướng đến triết lý xem học sinh là nhân tố trung tâm của sự nghiệp giáo dục. Nhưng vô hình trung, cách nhìn "đúng quan điểm" nói trên đang làm suy giảm nghiêm trọng những nhân tố, yếu tố quan trọng khác của môi trường sư phạm. Đó là người thầy, sự trung thực - nghiêm túc - công bằng, kiến thức thực chất…
Thi không nhằm đánh rớt học sinh, học sinh muốn rớt cũng khó có cơ hội thì vai trò, ảnh hưởng của người thầy, những nét đẹp lấp lánh của tri thức và nhân cách tạo nên quyền uy của người thầy đối với học trò cũng mai một dần. Lúc đó, người thầy chỉ còn là những hướng dẫn viên, huấn luyện viên… hay nói cách khác, là những người làm công ăn lương trong một ngành nghề. Xác nhận về tri thức, trình độ cho học sinh không còn là việc của người thầy mà là của bảng điểm, vốn vô tri vô giác.
Nâng cao chất lượng của thầy cô giáo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là việc rất khó nhưng tác động làm thay đổi con số trên bảng điểm thì có vô số cách, chưa cần bàn đến những hình thức gian lận, tiêu cực. Những năm gần đây, càng về sau, đề thi các kiểu đều càng có xu hướng mà các nhà quản lý giáo dục gọi là "không đánh đố học trò". Sau mỗi kỳ thi, lời than phiền của đội ngũ giáo viên về chuyện "học sinh không học chữ nào, bài thi vẫn có điểm" đã ngày càng dày đặc hơn. Đề dễ, đáp án rộng đường chưa đủ, rất nhiều địa phương còn chủ trương chấm đi chấm lại nhiều lần, có nơi, có môn chấm đến lần 3. Mục đích chắc chắn không phải để giải quyết những tồn nghi giữa tương quan chất lượng bài làm với kết quả điểm số mà là để "cải thiện chất lượng thi cử". Cứ sau mỗi vòng chấm lại, chắc chắn tỉ lệ đậu tốt nghiệp lại được nâng cao thêm một bậc. Điểm thi không đủ trung bình, học sinh cũng chưa chắc đã trượt. Gần như học sinh nào cũng có "chứng chỉ học nghề" để được cộng thêm 2 điểm vào kết quả tốt nghiệp. Nhưng có thật sự biết gì về nghề hay không, đó lại là chuyện khác…
Gian lận thi cử tại Trường THPT dân lập Đồi Ngô (Bắc Giang).
Tấm bằng tốt nghiệp - giấy chứng nhận tri thức và nhân cách, giấy thông hành vào đời của học sinh - đang mất dần tính chất thiêng liêng, trang trọng vốn có. Bởi nó nhạt hẳn dấu ấn của người thầy. Tôi có một người bạn dạy Văn lâu năm ở Trường THPT Marie Curie Tp HCM. Là cháu nội đích tôn của nhà văn nổi tiếng Đỗ Đức Thu thời Tự Lực Văn Đoàn, thầy Đỗ Đức Thái cũng từng mang trong mình rất nhiều nhiệt huyết văn chương. Nhưng mấy năm gần đây, mỗi lần gặp nhau, kể cả khi tôi nói trực tiếp vào việc giảng dạy môn văn ở trường, thầy Thái cũng không hứng thú, thường lảng sang chuyện khác. Dạy văn với thầy giờ là công việc, là nghĩa vụ, còn say mê và hứng thú thì đã giảm đi nhiều. Học trò sẽ tỏ ra rất chán nản, cho dù người thầy trên bục có cố tìm mọi cách truyền lửa văn chương, truyền tình yêu cái đẹp cho chúng. Thay vì háo hức khám phá sự rung động của bản thân trước câu thơ, trang sách, học sinh chỉ chăm chăm "Thầy ơi, đề này thì làm thế nào?".
Học chỉ để thi, bài giảng trở nên hoàn toàn xơ cứng. Mà thi thì đã có ba - rem sẵn. Do đó, việc dạy Văn chỉ còn cốt sao cho học sinh nắm đủ ý, đủ phần - những yếu tố thuần lý tính. Những giáo viên càng cố truyền thụ cái đẹp, sự rung động và lửa nhiệt tình thì càng…."nguy hiểm", bởi kết quả thi cử sẽ không mấy khả quan. Thay vào đó, giáo viên cần phải cho học sinh học thuộc, thuộc càng nhiều càng tốt, những bài văn mẫu, đáp án mẫu. Thứ này, trên mạng có sẵn nhan nhản. Thay vì dạy cái đẹp, tốt nhất, giáo viên nên chỉ… đường link cho học sinh. Không cần truyền đạt, không cần giảng văn chương, bởi học sinh lớp 12, em nào cũng biết vi tính! Đỗ Đức Thái bảo: "Đi chấm thi, đừng quan tâm nhiều đến ngữ pháp chính tả. Sáng tạo cũng không cần, cứ đủ ý, đủ yêu cầu là phải cho điểm. Làm khác đi, nếu phải chấm lại, có kết quả khác thì giáo viên lãnh đủ".
Thực tế dạy và học Văn mà chúng tôi khảo sát được quả thật không hề khác so với những gì mà thầy giáo dạy Văn Đỗ Đức Thái đã chia sẻ. Một giáo viên văn, muốn được xem là xuất sắc, có nhiều sáng kiến kinh nghiệm, tốt nhất nên trang bị cho mình thật nhiều kỹ năng tin học. Lên lớp, việc cần làm là biết bật máy tính xách tay và thể hiện bài giảng bằng đèn chiếu. Việc đầu tư, tìm tòi cho bài giảng đôi khi… không cần thiết vì trên mạng có thừa. Càng cố tìm tòi, coi chừng càng dễ dẫn học sinh đi lạc… ba-rem, thi kém là cái chắc. Trò đậu thấp, cầm chắc thầy mất thi đua.
Sau mỗi mùa thi, những bài văn, đoạn văn ngớ ngẩn của học trò lại được tung lên nhan nhản trên mạng. Theo tôi, học sinh đáng cười ít mà người lớn, xã hội và nhà trường đáng cười nhiều hơn. Học vẹt, hớt váng thi cử bằng văn mẫu, việc học sinh yếu kiến thức, ngô nghê ngôn từ là điều khó tránh. Điều cần thay đổi là cách giảng dạy trong nhà trường, nằm trong cả một hệ thống giáo dục có rất nhiều thứ cần thay đổi, chứ đâu phải là việc bêu riếu, bỡn cợt một vài bài làm của học sinh cá biệt, viết mà không biết mình đang viết gì.
Bất kỳ ai, trước mọi sự vật hiện tượng đều có sẵn một phản ứng cảm xúc, gọi là thái độ mỹ cảm. Tùy theo trí tưởng tượng (images), có tính khuynh hướng tự nhiên (điều kiện cần) và năng lực, tri thức được giáo dục (điều kiện đủ), thái độ mỹ cảm sẽ phát triển dần và tạo thành khuynh hướng cảm xúc (emotions). Sự hội tụ điều kiện cần và đủ khiến cảm xúc bùng nổ, khi đó, cảm hứng sáng tạo (inspirations) sẽ xuất hiện, tác phẩm nghệ thuật sẽ xuất hiện. Việc dạy văn chương nói riêng, khoa học xã hội nói chung chính là biện pháp dẫn dắt, tích trữ cảm xúc cho học sinh theo chiều hướng chọn lọc, dẫn học sinh từ thái độ mỹ cảm tiến dần đến cảm hứng sáng tạo. Đáng tiếc, chạy theo mục đích thi cử thuần lý tính, cái đẹp đang chết trong trường học, dẫn đến việc học sinh thờ ơ, thậm chí quay lưng với việc học văn.
Giáo dục Việt
Để lấy lại niềm tin của xã hội vào chất lượng giáo dục, những năm tới, có lẽ ngành nên tìm cách… đánh rớt học sinh nhiều hơn trong các kỳ thi. Nói vậy nghe có vẻ cực đoan và tiêu cực, song dù sao nó cũng dễ thực hiện hơn nhiều so với việc nâng cao chất lượng giáo dục lên cân bằng với tỉ lệ đậu tốt nghiệp như hiện tại. Việc này quá khó, e rằng trong một hai nhiệm kỳ, Bộ trưởng sẽ không thể thực hiện nổi