Hoạt động hậu cần của OSS trong Thế chiến II

Khả năng hậu cần của OSS trong Thế chiến II vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ cho đến nay. Trung tá Fitzhugh Chandler là sĩ quan chỉ huy của OSS tại Khu vực H ở Anh - cơ sở cung cấp vũ khí và hậu cần cho lực lượng Kháng chiến Pháp cũng như Các nhóm hành động OSS (OGs), Tác chiến đặc biệt (SO), Biệt kích Jedburgh cùng các toán Tình báo mật (SI). Bài viết này kể về những gì đã được làm tại Khu vực H cũng như vật tư hậu cần được đưa tới phía sau phòng tuyến địch.

Công tác chuẩn bị hàng tiếp tế

Ngày 26/6/1942, OSS và cơ quan tương đương phía Anh là Cục chiến dịch đặc biệt (SOE) đồng nhất trí phân chia  thế giới thành các khu vực. SOE giữ lại Tây Âu và ra quyết định rằng OSS và SO sẽ hoạt động dưới sự giám sát chung của SOE nhưng vẫn duy trì tính độc lập. Đến ngày 14/1/1944, SO và SOE đã kết hợp trụ sở chính của họ nhằm tăng cường sự điều phối. Sự sắp xếp này đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi nhân sự giữa hai nước. Cần biết rằng người Anh đã tham chiến từ năm 1939 nhưng thiếu thốn hậu cần. Chi nhánh SO non trẻ phải xây dựng chuỗi cung ứng để hỗ trợ cho quân Đồng Minh giải phóng Châu Âu khi SOE không thể hỗ trợ các hoạt động của OSS. Bước đầu tiên là đưa máy bay có khả năng vận chuyển hàng tiếp tế vào Châu Âu. Ngày 5/5/1943, nhánh SO yêu cầu một phi đội oanh tạc cơ của Không lực Mỹ (USAAF) thả điệp viên và hàng tiếp tế vào Châu Âu do Đức Quốc xã (ĐQX) chiếm đóng.

5 tháng sau đó, sau khi xem xét áp lực từ giám đốc OSS, Thiếu tướng William Donovan, nhánh SO đã nhận một phi đội 16 máy bay và hứa hẹn sẽ có thêm một phi đội khác vào cuối năm đó. Ban đầu phi đội B-24 được thành lập bởi đại tá Clifford Heflin nhằm triển khai nhiệm vụ săn ngầm. Phi đội này được đặt lại cái tên mới là Nhóm oanh tạc số 801 (hoặc tên thường gọi là “Carpetbaggers” - tên mã nhiệm vụ là Chiến dịch CARPETBAGGER), 801 trở thành nhân tố USAAF chịu trách nhiệm thả hàng tiếp tế vào ban đêm cho quân kháng chiến và các nhóm hoạt động đặc biệt tại Châu Âu do ĐQX chiếm đóng. Nhiệm vụ đầu tiên của CARPETBAGGER được thực hiện bởi Không lực hoàng gia (RAF) Tempsford trong tháng 1/1944. Các phi hành đoàn 801 được phái tới RAF Tempsford để học hỏi chuyên môn của các phi đội bay SOE và được đào tạo bài bản cho các hoạt động tiếp tế bí mật. Tại đó chỉ trong một thời gian ngắn ở Alconbury, 801 đã chuyển căn cứ không quân đến Harrington.

Hoạt động hậu cần của OSS trong Thế chiến II -0
Trung tá Fitzhugh Chandler, sĩ quan chỉ huy của OSS tại Khu vực H ở Anh - cơ sở cung cấp vũ khí và hậu cần cho lực lượng Kháng chiến Pháp.

Tại Harrington, Carpetbaggers lớn mạnh thành 4 phi đội (16 máy bay/ phi đội) với 2.500 phi công. Ngày 13/8/1944, 801 được đổi tên thành Nhóm oanh tạc 492 và các phi đội của nó lần lượt được đổi tên là 36 sang 856, 406 sang 858, 850 sang 857, và 788 sang 859. Khi vấn đề không vận đã được giải quyết, OSS cần một căn cứ hậu cần ở Anh nơi có thể tích trữ và chuẩn bị các danh mục hàng hóa sang Châu Âu bị chiếm đóng. Một bản ghi nhớ đề ngày 6/7/1943 từ đại tá Charles Vanderblue, trưởng nhánh SO London của OSS, cho đến tổng hành dinh OSS ở Washington DC, đã định rõ những thứ cần phải cung cấp cho Khu vực H. Đầu tháng 8/1943, OSS Washington giao trọng trách cho SO London đáp ứng các yêu cầu hậu cần cho 100 điệp viên, 35 nhóm Jedburgh (mỗi nhóm có 3 sĩ quan) và 100.000 quân. Lường trước sẽ có hậu quả tổn thất nặng nề trong quá trình thả tiếp tế nên SO lập luận rằng họ nên tăng gấp đôi số lượng ước tính nhằm trang bị cho một lực lượng quy mô như thế.

Điều này đồng nghĩa là SO phải tích trữ 71.400 con dao, gần 104.000 khẩu súng tiểu liên, 24.000 khẩu súng carbine, 104.000 khẩu súng lục, 793.000 quả lựu đạn, hơn 704.200 kg các vật liệu nổ, gần 18 triệu viên đạn các loại, và 38.000 chiếc dù. Nhánh SO London đã nhanh chóng tìm ra địa điểm để tích trữ số hàng này và đóng gói chúng để vận chuyển bằng đường hàng không. Chuẩn tướng Anh, E. E. Mockler-Ferryman của SOE đã gợi ý rằng cơ sở SO nên đặt gần trạm đóng hàng (Trạm 61) ở St. Neots (Huntingdonshire,Cambridgeshire, Anh). Theo cách đó, 2 tổ chức có thể tiếp cận nguồn cung chung. Rời tổng hành dinh khu vực Hoạt động hàng không SO ở London, phần lớn nhân sự sẽ chuyển tới Holmewood, một điền trang từ thế kỷ 16 nằm gần làng Holme. Holmewood cách thủ đô London 80 dặm và cách Trạm 61 độ 20 dặm. Điền trang này dùng làm nhà ở cho các sĩ quan cũng như có các phòng tiêu khiển. Thi thoảng các điệp viên cũng trú ở đó trước khi bắt đầu nhiệm vụ của họ. Các chuồng ngựa và những ngôi nhà phụ của điền trang được dùng làm kho chứa hàng.

Khu vực H

Việc xây dựng các cơ sở OSS ở Anh (Khu vực H) đã được bắt đầu vào tháng 1/1944 và hoàn tất 2 tháng sau đó. Khu vực H trở thành cơ sở cung ứng lớn nhất của SO tại Nhà hát Châu Âu. Thời điểm đó, Khu vực H có thể chứa 18 sĩ quan và 326 quân nhân. Mặc dù điện nước lấy từ bên ngoài, nhưng hệ thống sưởi lại được lấy từ một nhà máy điện mới xây dựng. Các ngôi nhà bằng tấm kim loại ở đây dược dùng làm bệnh xá, các khu vực hành chính và bảo trì cũng như bể chứa động cơ. Những ngôi nhà biệt lập dùng để chứa đạn dược và thuốc nổ, (các thiết bị gây cháy nổ) được dựng cách xa trại chính. Khu vực đó có 4 túp lều Nissen và 5 căn nhà gạch. Mỗi túp lều được quây bằng tường gạch đề phòng cháy nổ bất ngờ. Một túp lều Nissen và 4 lều Romney được dùng để đóng hàng. Có một nhà kho bằng gạch mới xây được dùng để chứa đồ đã đóng gói. Khu vực H có thể chứa 500 tấn hàng. Căn cứ SOE tại St. Neots có thể xử lý thêm 300 tấn. An ninh được thắt chặt ở Khu vực H.

Xung quanh điền trang được quây hàng rào dây kẽm gai khá cao. Ban đêm, các đội chó canh phòng sẽ tuần tra xung quanh. Ba cổng đều có chòi canh để kiểm soát người ra vào. Việc điều phối giữa OSS và SOE là không đổi, các thủ tục đóng hàng cũng được kiểm tra chéo. Việc chuyển hàng tiếp tế sang Châu Âu bị chiếm đóng được bắt đầu bằng những thùng hàng được đóng gói đặc biệt. Những cái hộp nhựa hoặc ống kim loại được thiết kế theo 2 loại gồm hình chữ “H” và hình chữ “C”. Nhìn bề ngoài thì chúng giống hệt nhau, tuy nhiên thùng “H” có các ngăn bên trong, trong khi thùng “C”  không có. Khi rơi xuống đất, các thùng “H” có thể bung ra và tách thành 5 phần riêng rẽ, mỗi phần chứa 1 người. Các thùng “C” đựng súng trường hoặc súng máy. Sau khi lấy ra khỏi kho, các thùng rỗng sẽ được đánh số serie trước khi chuyển đến khu vực đóng gói. Trong các thùng được bện vật liệu chống sốc chẳng hạn như vải bố, và các thùng được đóng chặt lại.

Cũng có những kiện hàng được thiết kế riêng để chống sốc khi bung dù cũng như khi hạ cánh. Những thùng hàng có thể chứa bất kỳ hàng nào trong số 400 danh mục đồ tiếp tế của quân đội Mỹ, quân đội Anh, OSS hoặc SOE. Nguồn cung luôn trong thế sẵn sàng. Những kho dự trữ bao gồm các loại vũ khí của Anh, Mỹ với nhiều cỡ nòng khác nhau. Các sĩ quan tại Khu vực H cũng đánh giá loại súng mà sĩ quan OSS sử dụng để biết chính xác chúng dùng loại đạn gì. Thỉnh thoảng, nội dung của các kiện hàng hoặc thùng hàng được tinh chỉnh để phù hợp với những nhiệm vụ cụ thể theo đề nghị của Khu vực H. Cơ sở đóng hàng ở Khu vực H phải hoạt động cực kỳ linh hoạt nhằm đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ. Những người nhận hàng thả cần phải chắc chắn họ có đủ người để nhận hàng, chuyển và giấu ở nơi an toàn trước khi quân Đức đi tuần vào sáng ngày hôm sau. Điều này dẫn đến sự ra đời của một loạt tải trọng tiêu chuẩn, nó cũng cung cấp chính xác hơn về tổng trọng lượng hàng cho mỗi chuyến thả hàng.

Chẳng hạn như một trong những tải trọng tiêu chuẩn cho mỗi thùng “H” là 5 khẩu súng Sten 15 băng đạn, 1.500 viên đạn 9mm; 5 khẩu súng lục với 250 viên đạn; 52 quả lựu đạn và 18 kg vật liệu nổ. Trọng lượng thùng chứa là 127,5 kg. Đồ chứa của mỗi thùng được phân phối và đóng gói trong các ô, khoang nhằm làm cân bằng với tải trọng và tăng cơ hội tiếp đất dễ dàng. Điều này tương tự với loại thùng chứa “C”. Một thùng chứa “C” có thể để 2 khẩu súng hạng nhẹ Bren với 16 băng đạn cùng 2.000 viên đạn, nặng 137,4kg. Để xác minh các kỹ thuật đóng gói đã chuẩn chưa, nhân viên tại Khu vực H đã tiến hành các bài thử nghiệm thả hàng (bao gồm thả rơi tự do hàng hóa) nhằm tìm hiểu xem một khi rơi xuống đất thùng hàng có còn nguyên vẹn hay không.  Sau khi đóng hàng xong, các thùng chứa được chở bằng những đoàn xe đến máy bay đang đỗ sẵn tại các sân bay SOE hoặc USAAF. Sân bay chính của USAAF mà Khu vực H hỗ trợ là Harrington, nơi có bản doanh của Carpetbaggers (Nhóm oanh tạc số 801).

Hoạt động hậu cần của OSS trong Thế chiến II -0
Máy bay B-24 Liberator đã được sửa đổi của Nhóm oanh tạc 492/801 (tên gọi khác là “Carpetbaggers”) cất cánh từ căn cứ không quân Hoàng gia Anh ở Harrington năm 1944.

Hoạt động đặc biệt ở châu Âu 

Những toán Carpetbaggers đã đi tiên phong trong việc bay tầm thấp vào ban đêm trong các máy bay của USAAF. Tất cả nhiệm vụ được tiến hành vào thời kỳ trăng rằm, khi ánh trăng có thể hỗ trợ tầm nhìn của phi công. Các phi đội oanh tạc USAAF ở Châu Âu thường bám vào học thuyết ném bom chính xác vào ban ngày. Các phi công Carpetbaggers giữ yên dưới độ cao 609,6m đề phòng radar và lưới phòng không của Đức phát hiện cũng như tăng độ chính xác khi thả hàng. Một khi vượt qua mục tiêu, máy bay Carpetbaggers sẽ liên lạc với mặt đất bằng cách dùng một thiết bị được gọi là “điện thoại S” - một loại máy vô tuyến đất đối không tầm ngắn - nhằm cho phép đạt độ chính xác lớn hơn khi thả hàng. Nếu ban tiếp mặt đất không có “điện thoại S” thì họ sẽ liên lạc bằng đèn pin hoặc pháo hiệu. Các đợt thả hàng và nhân sự thường diễn ra ở độ cao từ 121,9m đến 182,8m và dưới 130 dặm/ giờ.

Tốc độ này gần bằng tốc độ ngưng của máy bay B-24, nhưng nó làm giảm độ sốc mở dù, giảm khả năng thiệt hại cho các vật chứa bên trong cùng thương vong cho các điệp viên. Tại những địa điểm khác, phi công sẽ thả truyền đơn để che giấu nhiệm vụ chính. Tháng 1/1944, USAAF bắt đầu thả hàng tiếp tế xuống Châu Âu. Những chuyến thả ban đầu này là phản ứng với nhu cầu ngày càng tăng ở Khu vực H. Các hoạt động thả hàng được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 2/1944, chỉ có 28 trong số 76 nhiệm vụ là thành công. Đến tháng 3/1944, tỷ lệ thành công được cải thiện là 44/72. Trong suốt 3 tháng đầu năm 1944, 6 điệp viên, 799 thùng hàng và 265 kiện hàng (và 1 triệu viên đạn dùng cho vũ khí nhỏ) đã được thả, thiệt hại 3 máy bay. Tháng 7/1944, các phi công Carpetbaggers được giao nhiệm vụ rước nhân sự từ Châu Âu về lại. Vài chiếc C-47 được gắn vào Carpetbaggers, và xuyên suốt tháng 9/1944 đã đưa về 76 điệp viên cũng như trục xuất 213 điệp viên địch.

Lịch trình làm việc tại Khu vực H hết sức khắt khe. Để cung cấp 10.000 thùng hàng mỗi tháng theo yêu cầu trong tháng 7/1944, 2 ca làm việc 8 tiếng ngoài giờ, 7 ngày/ tuần. Nhân viên đóng gói được nghỉ 1 ngày trong tuần. Các đợt tăng ca đột biến theo định kỳ cũng được yêu cầu. Khu vực H đã đóng 15.323 thùng hàng và các kiện hàng cho mỗi tháng. Nhiều đợt tăng cao trong số này đã đáp ứng những đợt thả lớn của USAAF cho kháng chiến Pháp, hoặc đợt ngày 19/9/1944 các phi công đã thả 1.084 thùng hàng cho kháng chiến Ba Lan - họ bị quân Đức vây hãm ở Warsaw. Sau tháng 9/1944, tiến độ ở Khu vực H chậm dần. Pháp - quốc gia chính về những hoạt động tiếp tế không vận - đã không còn cần tái cung nữa. Từ đó Carpetbaggers đã chuyển đổi những chiếc B-24 của họ để chở nhiên liệu trực tiếp cho Trung tướng S. Patton của Tập đoàn quân số 3, vốn vượt quá khả năng hậu cần của họ. Các phi công Carpetbaggers đã chuyển giao 822.791 lít nhiên liệu/ tháng.

Cuối cuộc chiến ở Âu Châu, nhóm oanh tạc 801/Nhóm oanh tạc 492 đã thả 551 điệp viên và 4511 tấn hàng tiếp tế, tổn thất 223 phi công. Đến lúc đó, quy mô hoạt động của họ bao phủ Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đức, Ý, Ba Lan và Na Uy. Tháng 11/1944, Khu vực H tái cung cấp đồ tiếp tế cho các lực lượng kháng chiến ở Đan Mạch và Na Uy. Các túi thư ngoại giao được đại diện chính phủ Na Uy lưu vong mang vào Thụy Điển. Sau khi cất giấu an toàn trong nhà kho của Công sứ Na Uy ở Stockholm, các túi thư được mở ra và tài liệu được tuồn vào Na Uy. Đến giữa tháng 12/1944, khoảng 6,5 tấn đồ tiếp tế đã được giấu ở Thụy Điển dùng cho Na Uy. Khu vực H đóng gói 10.000 thùng hàng / tháng dùng cho Na Uy và Đan Mạch; cũng như một phi đội Carpetbagger (Phi đội 856) được giữ lại khi chiến tranh chống Đức chấm dứt trong tháng 5/1945.

Nỗ lực hậu cần của OSS tại Khu vực H đã thành công ngoài sức tưởng tượng. Trong suốt năm 1944, khu vực này đã đóng gói 50.162 thùng hàng và được chở bởi các phi công RAF và USAAF. Trong 9 tháng đầu năm 1944, hơn 75.000 vũ khí nhỏ và 35.000 quả lựu đạn đã được gửi đi. Khu vực H đã cung cấp 96 tấn đồ tiếp tế cho Bỉ, 9 tấn cho Đan Mạch, 3,055 tấn cho Pháp, 119 tấn cho Ba Lan và 56 tấn cho Na Uy. Có một thực tế bị giấu kín đó là những điệp viên đứng sau phòng tuyến Đức đã trực tiếp làm nên hoạt động hậu cần của OSS ở Châu Âu.

Văn Chương (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.