Hoạt động hậu cần của OSS trong Thế chiến II

Khả năng hậu cần của OSS trong Thế chiến II vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ cho đến nay. Trung tá Fitzhugh Chandler là sĩ quan chỉ huy của OSS tại Khu vực H ở Anh - cơ sở cung cấp vũ khí và hậu cần cho lực lượng Kháng chiến Pháp cũng như Các nhóm hành động OSS (OGs), Tác chiến đặc biệt (SO), Biệt kích Jedburgh cùng các toán Tình báo mật (SI). Bài viết này kể về những gì đã được làm tại Khu vực H cũng như vật tư hậu cần được đưa tới phía sau phòng tuyến địch.

Công tác chuẩn bị hàng tiếp tế

Ngày 26/6/1942, OSS và cơ quan tương đương phía Anh là Cục chiến dịch đặc biệt (SOE) đồng nhất trí phân chia  thế giới thành các khu vực. SOE giữ lại Tây Âu và ra quyết định rằng OSS và SO sẽ hoạt động dưới sự giám sát chung của SOE nhưng vẫn duy trì tính độc lập. Đến ngày 14/1/1944, SO và SOE đã kết hợp trụ sở chính của họ nhằm tăng cường sự điều phối. Sự sắp xếp này đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi nhân sự giữa hai nước. Cần biết rằng người Anh đã tham chiến từ năm 1939 nhưng thiếu thốn hậu cần. Chi nhánh SO non trẻ phải xây dựng chuỗi cung ứng để hỗ trợ cho quân Đồng Minh giải phóng Châu Âu khi SOE không thể hỗ trợ các hoạt động của OSS. Bước đầu tiên là đưa máy bay có khả năng vận chuyển hàng tiếp tế vào Châu Âu. Ngày 5/5/1943, nhánh SO yêu cầu một phi đội oanh tạc cơ của Không lực Mỹ (USAAF) thả điệp viên và hàng tiếp tế vào Châu Âu do Đức Quốc xã (ĐQX) chiếm đóng.

5 tháng sau đó, sau khi xem xét áp lực từ giám đốc OSS, Thiếu tướng William Donovan, nhánh SO đã nhận một phi đội 16 máy bay và hứa hẹn sẽ có thêm một phi đội khác vào cuối năm đó. Ban đầu phi đội B-24 được thành lập bởi đại tá Clifford Heflin nhằm triển khai nhiệm vụ săn ngầm. Phi đội này được đặt lại cái tên mới là Nhóm oanh tạc số 801 (hoặc tên thường gọi là “Carpetbaggers” - tên mã nhiệm vụ là Chiến dịch CARPETBAGGER), 801 trở thành nhân tố USAAF chịu trách nhiệm thả hàng tiếp tế vào ban đêm cho quân kháng chiến và các nhóm hoạt động đặc biệt tại Châu Âu do ĐQX chiếm đóng. Nhiệm vụ đầu tiên của CARPETBAGGER được thực hiện bởi Không lực hoàng gia (RAF) Tempsford trong tháng 1/1944. Các phi hành đoàn 801 được phái tới RAF Tempsford để học hỏi chuyên môn của các phi đội bay SOE và được đào tạo bài bản cho các hoạt động tiếp tế bí mật. Tại đó chỉ trong một thời gian ngắn ở Alconbury, 801 đã chuyển căn cứ không quân đến Harrington.

Hoạt động hậu cần của OSS trong Thế chiến II -0
Trung tá Fitzhugh Chandler, sĩ quan chỉ huy của OSS tại Khu vực H ở Anh - cơ sở cung cấp vũ khí và hậu cần cho lực lượng Kháng chiến Pháp.

Tại Harrington, Carpetbaggers lớn mạnh thành 4 phi đội (16 máy bay/ phi đội) với 2.500 phi công. Ngày 13/8/1944, 801 được đổi tên thành Nhóm oanh tạc 492 và các phi đội của nó lần lượt được đổi tên là 36 sang 856, 406 sang 858, 850 sang 857, và 788 sang 859. Khi vấn đề không vận đã được giải quyết, OSS cần một căn cứ hậu cần ở Anh nơi có thể tích trữ và chuẩn bị các danh mục hàng hóa sang Châu Âu bị chiếm đóng. Một bản ghi nhớ đề ngày 6/7/1943 từ đại tá Charles Vanderblue, trưởng nhánh SO London của OSS, cho đến tổng hành dinh OSS ở Washington DC, đã định rõ những thứ cần phải cung cấp cho Khu vực H. Đầu tháng 8/1943, OSS Washington giao trọng trách cho SO London đáp ứng các yêu cầu hậu cần cho 100 điệp viên, 35 nhóm Jedburgh (mỗi nhóm có 3 sĩ quan) và 100.000 quân. Lường trước sẽ có hậu quả tổn thất nặng nề trong quá trình thả tiếp tế nên SO lập luận rằng họ nên tăng gấp đôi số lượng ước tính nhằm trang bị cho một lực lượng quy mô như thế.

Điều này đồng nghĩa là SO phải tích trữ 71.400 con dao, gần 104.000 khẩu súng tiểu liên, 24.000 khẩu súng carbine, 104.000 khẩu súng lục, 793.000 quả lựu đạn, hơn 704.200 kg các vật liệu nổ, gần 18 triệu viên đạn các loại, và 38.000 chiếc dù. Nhánh SO London đã nhanh chóng tìm ra địa điểm để tích trữ số hàng này và đóng gói chúng để vận chuyển bằng đường hàng không. Chuẩn tướng Anh, E. E. Mockler-Ferryman của SOE đã gợi ý rằng cơ sở SO nên đặt gần trạm đóng hàng (Trạm 61) ở St. Neots (Huntingdonshire,Cambridgeshire, Anh). Theo cách đó, 2 tổ chức có thể tiếp cận nguồn cung chung. Rời tổng hành dinh khu vực Hoạt động hàng không SO ở London, phần lớn nhân sự sẽ chuyển tới Holmewood, một điền trang từ thế kỷ 16 nằm gần làng Holme. Holmewood cách thủ đô London 80 dặm và cách Trạm 61 độ 20 dặm. Điền trang này dùng làm nhà ở cho các sĩ quan cũng như có các phòng tiêu khiển. Thi thoảng các điệp viên cũng trú ở đó trước khi bắt đầu nhiệm vụ của họ. Các chuồng ngựa và những ngôi nhà phụ của điền trang được dùng làm kho chứa hàng.

Khu vực H

Việc xây dựng các cơ sở OSS ở Anh (Khu vực H) đã được bắt đầu vào tháng 1/1944 và hoàn tất 2 tháng sau đó. Khu vực H trở thành cơ sở cung ứng lớn nhất của SO tại Nhà hát Châu Âu. Thời điểm đó, Khu vực H có thể chứa 18 sĩ quan và 326 quân nhân. Mặc dù điện nước lấy từ bên ngoài, nhưng hệ thống sưởi lại được lấy từ một nhà máy điện mới xây dựng. Các ngôi nhà bằng tấm kim loại ở đây dược dùng làm bệnh xá, các khu vực hành chính và bảo trì cũng như bể chứa động cơ. Những ngôi nhà biệt lập dùng để chứa đạn dược và thuốc nổ, (các thiết bị gây cháy nổ) được dựng cách xa trại chính. Khu vực đó có 4 túp lều Nissen và 5 căn nhà gạch. Mỗi túp lều được quây bằng tường gạch đề phòng cháy nổ bất ngờ. Một túp lều Nissen và 4 lều Romney được dùng để đóng hàng. Có một nhà kho bằng gạch mới xây được dùng để chứa đồ đã đóng gói. Khu vực H có thể chứa 500 tấn hàng. Căn cứ SOE tại St. Neots có thể xử lý thêm 300 tấn. An ninh được thắt chặt ở Khu vực H.

Xung quanh điền trang được quây hàng rào dây kẽm gai khá cao. Ban đêm, các đội chó canh phòng sẽ tuần tra xung quanh. Ba cổng đều có chòi canh để kiểm soát người ra vào. Việc điều phối giữa OSS và SOE là không đổi, các thủ tục đóng hàng cũng được kiểm tra chéo. Việc chuyển hàng tiếp tế sang Châu Âu bị chiếm đóng được bắt đầu bằng những thùng hàng được đóng gói đặc biệt. Những cái hộp nhựa hoặc ống kim loại được thiết kế theo 2 loại gồm hình chữ “H” và hình chữ “C”. Nhìn bề ngoài thì chúng giống hệt nhau, tuy nhiên thùng “H” có các ngăn bên trong, trong khi thùng “C”  không có. Khi rơi xuống đất, các thùng “H” có thể bung ra và tách thành 5 phần riêng rẽ, mỗi phần chứa 1 người. Các thùng “C” đựng súng trường hoặc súng máy. Sau khi lấy ra khỏi kho, các thùng rỗng sẽ được đánh số serie trước khi chuyển đến khu vực đóng gói. Trong các thùng được bện vật liệu chống sốc chẳng hạn như vải bố, và các thùng được đóng chặt lại.

Cũng có những kiện hàng được thiết kế riêng để chống sốc khi bung dù cũng như khi hạ cánh. Những thùng hàng có thể chứa bất kỳ hàng nào trong số 400 danh mục đồ tiếp tế của quân đội Mỹ, quân đội Anh, OSS hoặc SOE. Nguồn cung luôn trong thế sẵn sàng. Những kho dự trữ bao gồm các loại vũ khí của Anh, Mỹ với nhiều cỡ nòng khác nhau. Các sĩ quan tại Khu vực H cũng đánh giá loại súng mà sĩ quan OSS sử dụng để biết chính xác chúng dùng loại đạn gì. Thỉnh thoảng, nội dung của các kiện hàng hoặc thùng hàng được tinh chỉnh để phù hợp với những nhiệm vụ cụ thể theo đề nghị của Khu vực H. Cơ sở đóng hàng ở Khu vực H phải hoạt động cực kỳ linh hoạt nhằm đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ. Những người nhận hàng thả cần phải chắc chắn họ có đủ người để nhận hàng, chuyển và giấu ở nơi an toàn trước khi quân Đức đi tuần vào sáng ngày hôm sau. Điều này dẫn đến sự ra đời của một loạt tải trọng tiêu chuẩn, nó cũng cung cấp chính xác hơn về tổng trọng lượng hàng cho mỗi chuyến thả hàng.

Chẳng hạn như một trong những tải trọng tiêu chuẩn cho mỗi thùng “H” là 5 khẩu súng Sten 15 băng đạn, 1.500 viên đạn 9mm; 5 khẩu súng lục với 250 viên đạn; 52 quả lựu đạn và 18 kg vật liệu nổ. Trọng lượng thùng chứa là 127,5 kg. Đồ chứa của mỗi thùng được phân phối và đóng gói trong các ô, khoang nhằm làm cân bằng với tải trọng và tăng cơ hội tiếp đất dễ dàng. Điều này tương tự với loại thùng chứa “C”. Một thùng chứa “C” có thể để 2 khẩu súng hạng nhẹ Bren với 16 băng đạn cùng 2.000 viên đạn, nặng 137,4kg. Để xác minh các kỹ thuật đóng gói đã chuẩn chưa, nhân viên tại Khu vực H đã tiến hành các bài thử nghiệm thả hàng (bao gồm thả rơi tự do hàng hóa) nhằm tìm hiểu xem một khi rơi xuống đất thùng hàng có còn nguyên vẹn hay không.  Sau khi đóng hàng xong, các thùng chứa được chở bằng những đoàn xe đến máy bay đang đỗ sẵn tại các sân bay SOE hoặc USAAF. Sân bay chính của USAAF mà Khu vực H hỗ trợ là Harrington, nơi có bản doanh của Carpetbaggers (Nhóm oanh tạc số 801).

Hoạt động hậu cần của OSS trong Thế chiến II -0
Máy bay B-24 Liberator đã được sửa đổi của Nhóm oanh tạc 492/801 (tên gọi khác là “Carpetbaggers”) cất cánh từ căn cứ không quân Hoàng gia Anh ở Harrington năm 1944.

Hoạt động đặc biệt ở châu Âu 

Những toán Carpetbaggers đã đi tiên phong trong việc bay tầm thấp vào ban đêm trong các máy bay của USAAF. Tất cả nhiệm vụ được tiến hành vào thời kỳ trăng rằm, khi ánh trăng có thể hỗ trợ tầm nhìn của phi công. Các phi đội oanh tạc USAAF ở Châu Âu thường bám vào học thuyết ném bom chính xác vào ban ngày. Các phi công Carpetbaggers giữ yên dưới độ cao 609,6m đề phòng radar và lưới phòng không của Đức phát hiện cũng như tăng độ chính xác khi thả hàng. Một khi vượt qua mục tiêu, máy bay Carpetbaggers sẽ liên lạc với mặt đất bằng cách dùng một thiết bị được gọi là “điện thoại S” - một loại máy vô tuyến đất đối không tầm ngắn - nhằm cho phép đạt độ chính xác lớn hơn khi thả hàng. Nếu ban tiếp mặt đất không có “điện thoại S” thì họ sẽ liên lạc bằng đèn pin hoặc pháo hiệu. Các đợt thả hàng và nhân sự thường diễn ra ở độ cao từ 121,9m đến 182,8m và dưới 130 dặm/ giờ.

Tốc độ này gần bằng tốc độ ngưng của máy bay B-24, nhưng nó làm giảm độ sốc mở dù, giảm khả năng thiệt hại cho các vật chứa bên trong cùng thương vong cho các điệp viên. Tại những địa điểm khác, phi công sẽ thả truyền đơn để che giấu nhiệm vụ chính. Tháng 1/1944, USAAF bắt đầu thả hàng tiếp tế xuống Châu Âu. Những chuyến thả ban đầu này là phản ứng với nhu cầu ngày càng tăng ở Khu vực H. Các hoạt động thả hàng được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 2/1944, chỉ có 28 trong số 76 nhiệm vụ là thành công. Đến tháng 3/1944, tỷ lệ thành công được cải thiện là 44/72. Trong suốt 3 tháng đầu năm 1944, 6 điệp viên, 799 thùng hàng và 265 kiện hàng (và 1 triệu viên đạn dùng cho vũ khí nhỏ) đã được thả, thiệt hại 3 máy bay. Tháng 7/1944, các phi công Carpetbaggers được giao nhiệm vụ rước nhân sự từ Châu Âu về lại. Vài chiếc C-47 được gắn vào Carpetbaggers, và xuyên suốt tháng 9/1944 đã đưa về 76 điệp viên cũng như trục xuất 213 điệp viên địch.

Lịch trình làm việc tại Khu vực H hết sức khắt khe. Để cung cấp 10.000 thùng hàng mỗi tháng theo yêu cầu trong tháng 7/1944, 2 ca làm việc 8 tiếng ngoài giờ, 7 ngày/ tuần. Nhân viên đóng gói được nghỉ 1 ngày trong tuần. Các đợt tăng ca đột biến theo định kỳ cũng được yêu cầu. Khu vực H đã đóng 15.323 thùng hàng và các kiện hàng cho mỗi tháng. Nhiều đợt tăng cao trong số này đã đáp ứng những đợt thả lớn của USAAF cho kháng chiến Pháp, hoặc đợt ngày 19/9/1944 các phi công đã thả 1.084 thùng hàng cho kháng chiến Ba Lan - họ bị quân Đức vây hãm ở Warsaw. Sau tháng 9/1944, tiến độ ở Khu vực H chậm dần. Pháp - quốc gia chính về những hoạt động tiếp tế không vận - đã không còn cần tái cung nữa. Từ đó Carpetbaggers đã chuyển đổi những chiếc B-24 của họ để chở nhiên liệu trực tiếp cho Trung tướng S. Patton của Tập đoàn quân số 3, vốn vượt quá khả năng hậu cần của họ. Các phi công Carpetbaggers đã chuyển giao 822.791 lít nhiên liệu/ tháng.

Cuối cuộc chiến ở Âu Châu, nhóm oanh tạc 801/Nhóm oanh tạc 492 đã thả 551 điệp viên và 4511 tấn hàng tiếp tế, tổn thất 223 phi công. Đến lúc đó, quy mô hoạt động của họ bao phủ Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đức, Ý, Ba Lan và Na Uy. Tháng 11/1944, Khu vực H tái cung cấp đồ tiếp tế cho các lực lượng kháng chiến ở Đan Mạch và Na Uy. Các túi thư ngoại giao được đại diện chính phủ Na Uy lưu vong mang vào Thụy Điển. Sau khi cất giấu an toàn trong nhà kho của Công sứ Na Uy ở Stockholm, các túi thư được mở ra và tài liệu được tuồn vào Na Uy. Đến giữa tháng 12/1944, khoảng 6,5 tấn đồ tiếp tế đã được giấu ở Thụy Điển dùng cho Na Uy. Khu vực H đóng gói 10.000 thùng hàng / tháng dùng cho Na Uy và Đan Mạch; cũng như một phi đội Carpetbagger (Phi đội 856) được giữ lại khi chiến tranh chống Đức chấm dứt trong tháng 5/1945.

Nỗ lực hậu cần của OSS tại Khu vực H đã thành công ngoài sức tưởng tượng. Trong suốt năm 1944, khu vực này đã đóng gói 50.162 thùng hàng và được chở bởi các phi công RAF và USAAF. Trong 9 tháng đầu năm 1944, hơn 75.000 vũ khí nhỏ và 35.000 quả lựu đạn đã được gửi đi. Khu vực H đã cung cấp 96 tấn đồ tiếp tế cho Bỉ, 9 tấn cho Đan Mạch, 3,055 tấn cho Pháp, 119 tấn cho Ba Lan và 56 tấn cho Na Uy. Có một thực tế bị giấu kín đó là những điệp viên đứng sau phòng tuyến Đức đã trực tiếp làm nên hoạt động hậu cần của OSS ở Châu Âu.

Văn Chương (Tổng hợp)

Các tin khác

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.

Giải mã bí ẩn bức điêu khắc tại trụ sở CIA

Giải mã bí ẩn bức điêu khắc tại trụ sở CIA

Năm 1990, một tác phẩm điêu khắc bí ẩn được dựng lên trong khuôn viên của CIA tại Langley, bang Virginia. Công trình này gồm những tấm đồng khổng lồ được khắc các thông điệp mã hóa mà gần một thập kỷ không ai có thể giải được. Bước đột phá diễn ra ngay trước thềm thiên niên kỷ mới - 3 trong số 4 đoạn văn bản đã được giải mã, nhưng đoạn văn bản thứ 4 mà các chuyên gia coi là chìa khóa để hiểu nội dung toàn bộ tác phẩm, cho đến nay vẫn được giữ bí mật.

Hải quân mỹ trả giá vì sai lầm tình báo

Hải quân mỹ trả giá vì sai lầm tình báo

Ngày 24/4/1945, tàu ngầm U-546 của Đức Quốc xã đã bị đánh chìm trên Đại Tây dương, khiến toàn bộ thủy thủ đoàn bị bắt làm tù binh. Trong quá trình thẩm vấn, họ bị ép trả lời câu hỏi: cuộc tấn công tên lửa của Đức vào lãnh thổ Hoa Kỳ sẽ diễn ra vào lúc nào? Tuy nhiên, các tù binh Đức không thể cung cấp những thông tin được yêu cầu, bởi kế hoạch tấn công tên lửa vào Mỹ chỉ tồn tại trong suy nghĩ của các điệp viên Mỹ.

Thiếu tướng Lê Tiền: Người anh hùng thầm lặng giữa lòng miền Nam kháng chiến

Thiếu tướng Lê Tiền: Người anh hùng thầm lặng giữa lòng miền Nam kháng chiến

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy cam go của dân tộc, có những trận đánh hiển hách được ghi vào sử sách, nhưng cũng có những "trận tuyến thầm lặng" đầy quyết liệt và hiểm nguy. Thiếu tướng Lê Tiền (tên thân mật là Hai Tiền), nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, với quá trình hoạt động cách mạng và công tác an ninh phong phú chính là biểu tượng của chiến sĩ an ninh trên trận tuyến ấy. Trải qua hơn 50 năm hoạt động cách mạng, ông đã dành trọn những năm tháng thanh xuân gắn bó với mảnh đất phương Nam, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Nhóm tình báo “Đô đốc” thu thập thông tin mật từ Quốc vương Thụy Điển

Nhóm tình báo “Đô đốc” thu thập thông tin mật từ Quốc vương Thụy Điển

Trong lịch sử tình báo quân sự Nga và Liên Xô, đại tá hải quân Vladimir Stashevsky là một trường hợp đặc biệt. Từng đứng đầu mạng lưới tình báo tại Bắc Âu trong Thế chiến I, ông lại trở thành điệp viên nằm vùng trong Thế chiến II. Sau Cách mạng Tháng 10, giới lưu vong coi ông là người thân Liên Xô, còn chính quyền Xô viết lại nghi ngờ lòng trung thành của ông, vì ông vốn là một sĩ quan Nga hoàng. Bất chấp mọi ngờ vực và biến động, Stashevsky vẫn tiếp tục phục vụ Tổ quốc.

Lặng lẽ chiến dịch Cyber Guardian

Lặng lẽ chiến dịch Cyber Guardian

Ngày 18/7/2025, Bộ trưởng Điều phối An ninh quốc gia Singapore K. Shanmugam lần đầu công khai xác nhận UNC3886, một nhóm tấn công mạng tinh vi, đang nhắm vào hạ tầng trọng yếu của đảo quốc.

Giải mật hồ sơ tình báo 2017 chấn động nước Mỹ

Giải mật hồ sơ tình báo 2017 chấn động nước Mỹ

Cuộc rà soát mới của FBI đối với một số cựu và đương nhiệm sĩ quan CIA đang kéo trở lại tâm điểm một hồ sơ tình báo từng gây tranh luận kéo dài suốt nhiều năm ở Washington: bản đánh giá liên ngành công bố đầu năm 2017 về can thiệp bầu cử Mỹ.

Ukraine thử nghiệm nền tảng AI hỗ trợ tác chiến

Ukraine thử nghiệm nền tảng AI hỗ trợ tác chiến

CEO Palantir Alex Karp tiết lộ Ukraine đang sử dụng các nền tảng AI của công ty để phân tích dữ liệu chiến trường theo thời gian thực, qua đó thay đổi cách người lính phát hiện mục tiêu, xử lý thông tin và tiến hành tác chiến trong chiến tranh hiện đại.

Những đặc điểm chung của các điệp viên Anh hoạt động tại Nga

Những đặc điểm chung của các điệp viên Anh hoạt động tại Nga

Hành vi bất thường và thậm chí mang tính khiêu khích của một nhân viên đại sứ quán Anh đã thu hút sự chú ý của cơ quan An ninh Liên bang Nga (FSB). Kết quả là ông ta đã phải rời khỏi Nga vì bị cáo buộc sử dụng vỏ bọc ngoại giao để hoạt động gián điệp. Vậy, ông ta đã bị phát hiện như thế nào, đang tìm cách gặp ai, thu thập thông tin gì, và tại sao lại hành xử thiếu chuyên nghiệp như vậy?

Cuộc sống hiện tại của điệp viên Mỹ Edward Snowden

Cuộc sống hiện tại của điệp viên Mỹ Edward Snowden

Trong lịch sử thế kỷ XXI, hiếm có nhân vật nào tạo ra làn sóng dư luận mạnh mẽ như Edward Snowden. Với người này, anh là anh hùng đấu tranh vì tự do và quyền con người; với người khác, anh lại là kẻ phản bội tiết lộ bí mật quốc gia. Năm 2013, những tuyên bố gây chấn động của Snowden về chương trình giám sát toàn cầu của tình báo Mỹ đã làm rung chuyển thế giới. Bài viết giới thiệu về cuộc sống hiện tại của Snowden tại nước Nga.