Hoạt động hậu cần của OSS trong Thế chiến II

Khả năng hậu cần của OSS trong Thế chiến II vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ cho đến nay. Trung tá Fitzhugh Chandler là sĩ quan chỉ huy của OSS tại Khu vực H ở Anh - cơ sở cung cấp vũ khí và hậu cần cho lực lượng Kháng chiến Pháp cũng như Các nhóm hành động OSS (OGs), Tác chiến đặc biệt (SO), Biệt kích Jedburgh cùng các toán Tình báo mật (SI). Bài viết này kể về những gì đã được làm tại Khu vực H cũng như vật tư hậu cần được đưa tới phía sau phòng tuyến địch.

Công tác chuẩn bị hàng tiếp tế

Ngày 26/6/1942, OSS và cơ quan tương đương phía Anh là Cục chiến dịch đặc biệt (SOE) đồng nhất trí phân chia  thế giới thành các khu vực. SOE giữ lại Tây Âu và ra quyết định rằng OSS và SO sẽ hoạt động dưới sự giám sát chung của SOE nhưng vẫn duy trì tính độc lập. Đến ngày 14/1/1944, SO và SOE đã kết hợp trụ sở chính của họ nhằm tăng cường sự điều phối. Sự sắp xếp này đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi nhân sự giữa hai nước. Cần biết rằng người Anh đã tham chiến từ năm 1939 nhưng thiếu thốn hậu cần. Chi nhánh SO non trẻ phải xây dựng chuỗi cung ứng để hỗ trợ cho quân Đồng Minh giải phóng Châu Âu khi SOE không thể hỗ trợ các hoạt động của OSS. Bước đầu tiên là đưa máy bay có khả năng vận chuyển hàng tiếp tế vào Châu Âu. Ngày 5/5/1943, nhánh SO yêu cầu một phi đội oanh tạc cơ của Không lực Mỹ (USAAF) thả điệp viên và hàng tiếp tế vào Châu Âu do Đức Quốc xã (ĐQX) chiếm đóng.

5 tháng sau đó, sau khi xem xét áp lực từ giám đốc OSS, Thiếu tướng William Donovan, nhánh SO đã nhận một phi đội 16 máy bay và hứa hẹn sẽ có thêm một phi đội khác vào cuối năm đó. Ban đầu phi đội B-24 được thành lập bởi đại tá Clifford Heflin nhằm triển khai nhiệm vụ săn ngầm. Phi đội này được đặt lại cái tên mới là Nhóm oanh tạc số 801 (hoặc tên thường gọi là “Carpetbaggers” - tên mã nhiệm vụ là Chiến dịch CARPETBAGGER), 801 trở thành nhân tố USAAF chịu trách nhiệm thả hàng tiếp tế vào ban đêm cho quân kháng chiến và các nhóm hoạt động đặc biệt tại Châu Âu do ĐQX chiếm đóng. Nhiệm vụ đầu tiên của CARPETBAGGER được thực hiện bởi Không lực hoàng gia (RAF) Tempsford trong tháng 1/1944. Các phi hành đoàn 801 được phái tới RAF Tempsford để học hỏi chuyên môn của các phi đội bay SOE và được đào tạo bài bản cho các hoạt động tiếp tế bí mật. Tại đó chỉ trong một thời gian ngắn ở Alconbury, 801 đã chuyển căn cứ không quân đến Harrington.

Hoạt động hậu cần của OSS trong Thế chiến II -0
Trung tá Fitzhugh Chandler, sĩ quan chỉ huy của OSS tại Khu vực H ở Anh - cơ sở cung cấp vũ khí và hậu cần cho lực lượng Kháng chiến Pháp.

Tại Harrington, Carpetbaggers lớn mạnh thành 4 phi đội (16 máy bay/ phi đội) với 2.500 phi công. Ngày 13/8/1944, 801 được đổi tên thành Nhóm oanh tạc 492 và các phi đội của nó lần lượt được đổi tên là 36 sang 856, 406 sang 858, 850 sang 857, và 788 sang 859. Khi vấn đề không vận đã được giải quyết, OSS cần một căn cứ hậu cần ở Anh nơi có thể tích trữ và chuẩn bị các danh mục hàng hóa sang Châu Âu bị chiếm đóng. Một bản ghi nhớ đề ngày 6/7/1943 từ đại tá Charles Vanderblue, trưởng nhánh SO London của OSS, cho đến tổng hành dinh OSS ở Washington DC, đã định rõ những thứ cần phải cung cấp cho Khu vực H. Đầu tháng 8/1943, OSS Washington giao trọng trách cho SO London đáp ứng các yêu cầu hậu cần cho 100 điệp viên, 35 nhóm Jedburgh (mỗi nhóm có 3 sĩ quan) và 100.000 quân. Lường trước sẽ có hậu quả tổn thất nặng nề trong quá trình thả tiếp tế nên SO lập luận rằng họ nên tăng gấp đôi số lượng ước tính nhằm trang bị cho một lực lượng quy mô như thế.

Điều này đồng nghĩa là SO phải tích trữ 71.400 con dao, gần 104.000 khẩu súng tiểu liên, 24.000 khẩu súng carbine, 104.000 khẩu súng lục, 793.000 quả lựu đạn, hơn 704.200 kg các vật liệu nổ, gần 18 triệu viên đạn các loại, và 38.000 chiếc dù. Nhánh SO London đã nhanh chóng tìm ra địa điểm để tích trữ số hàng này và đóng gói chúng để vận chuyển bằng đường hàng không. Chuẩn tướng Anh, E. E. Mockler-Ferryman của SOE đã gợi ý rằng cơ sở SO nên đặt gần trạm đóng hàng (Trạm 61) ở St. Neots (Huntingdonshire,Cambridgeshire, Anh). Theo cách đó, 2 tổ chức có thể tiếp cận nguồn cung chung. Rời tổng hành dinh khu vực Hoạt động hàng không SO ở London, phần lớn nhân sự sẽ chuyển tới Holmewood, một điền trang từ thế kỷ 16 nằm gần làng Holme. Holmewood cách thủ đô London 80 dặm và cách Trạm 61 độ 20 dặm. Điền trang này dùng làm nhà ở cho các sĩ quan cũng như có các phòng tiêu khiển. Thi thoảng các điệp viên cũng trú ở đó trước khi bắt đầu nhiệm vụ của họ. Các chuồng ngựa và những ngôi nhà phụ của điền trang được dùng làm kho chứa hàng.

Khu vực H

Việc xây dựng các cơ sở OSS ở Anh (Khu vực H) đã được bắt đầu vào tháng 1/1944 và hoàn tất 2 tháng sau đó. Khu vực H trở thành cơ sở cung ứng lớn nhất của SO tại Nhà hát Châu Âu. Thời điểm đó, Khu vực H có thể chứa 18 sĩ quan và 326 quân nhân. Mặc dù điện nước lấy từ bên ngoài, nhưng hệ thống sưởi lại được lấy từ một nhà máy điện mới xây dựng. Các ngôi nhà bằng tấm kim loại ở đây dược dùng làm bệnh xá, các khu vực hành chính và bảo trì cũng như bể chứa động cơ. Những ngôi nhà biệt lập dùng để chứa đạn dược và thuốc nổ, (các thiết bị gây cháy nổ) được dựng cách xa trại chính. Khu vực đó có 4 túp lều Nissen và 5 căn nhà gạch. Mỗi túp lều được quây bằng tường gạch đề phòng cháy nổ bất ngờ. Một túp lều Nissen và 4 lều Romney được dùng để đóng hàng. Có một nhà kho bằng gạch mới xây được dùng để chứa đồ đã đóng gói. Khu vực H có thể chứa 500 tấn hàng. Căn cứ SOE tại St. Neots có thể xử lý thêm 300 tấn. An ninh được thắt chặt ở Khu vực H.

Xung quanh điền trang được quây hàng rào dây kẽm gai khá cao. Ban đêm, các đội chó canh phòng sẽ tuần tra xung quanh. Ba cổng đều có chòi canh để kiểm soát người ra vào. Việc điều phối giữa OSS và SOE là không đổi, các thủ tục đóng hàng cũng được kiểm tra chéo. Việc chuyển hàng tiếp tế sang Châu Âu bị chiếm đóng được bắt đầu bằng những thùng hàng được đóng gói đặc biệt. Những cái hộp nhựa hoặc ống kim loại được thiết kế theo 2 loại gồm hình chữ “H” và hình chữ “C”. Nhìn bề ngoài thì chúng giống hệt nhau, tuy nhiên thùng “H” có các ngăn bên trong, trong khi thùng “C”  không có. Khi rơi xuống đất, các thùng “H” có thể bung ra và tách thành 5 phần riêng rẽ, mỗi phần chứa 1 người. Các thùng “C” đựng súng trường hoặc súng máy. Sau khi lấy ra khỏi kho, các thùng rỗng sẽ được đánh số serie trước khi chuyển đến khu vực đóng gói. Trong các thùng được bện vật liệu chống sốc chẳng hạn như vải bố, và các thùng được đóng chặt lại.

Cũng có những kiện hàng được thiết kế riêng để chống sốc khi bung dù cũng như khi hạ cánh. Những thùng hàng có thể chứa bất kỳ hàng nào trong số 400 danh mục đồ tiếp tế của quân đội Mỹ, quân đội Anh, OSS hoặc SOE. Nguồn cung luôn trong thế sẵn sàng. Những kho dự trữ bao gồm các loại vũ khí của Anh, Mỹ với nhiều cỡ nòng khác nhau. Các sĩ quan tại Khu vực H cũng đánh giá loại súng mà sĩ quan OSS sử dụng để biết chính xác chúng dùng loại đạn gì. Thỉnh thoảng, nội dung của các kiện hàng hoặc thùng hàng được tinh chỉnh để phù hợp với những nhiệm vụ cụ thể theo đề nghị của Khu vực H. Cơ sở đóng hàng ở Khu vực H phải hoạt động cực kỳ linh hoạt nhằm đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ. Những người nhận hàng thả cần phải chắc chắn họ có đủ người để nhận hàng, chuyển và giấu ở nơi an toàn trước khi quân Đức đi tuần vào sáng ngày hôm sau. Điều này dẫn đến sự ra đời của một loạt tải trọng tiêu chuẩn, nó cũng cung cấp chính xác hơn về tổng trọng lượng hàng cho mỗi chuyến thả hàng.

Chẳng hạn như một trong những tải trọng tiêu chuẩn cho mỗi thùng “H” là 5 khẩu súng Sten 15 băng đạn, 1.500 viên đạn 9mm; 5 khẩu súng lục với 250 viên đạn; 52 quả lựu đạn và 18 kg vật liệu nổ. Trọng lượng thùng chứa là 127,5 kg. Đồ chứa của mỗi thùng được phân phối và đóng gói trong các ô, khoang nhằm làm cân bằng với tải trọng và tăng cơ hội tiếp đất dễ dàng. Điều này tương tự với loại thùng chứa “C”. Một thùng chứa “C” có thể để 2 khẩu súng hạng nhẹ Bren với 16 băng đạn cùng 2.000 viên đạn, nặng 137,4kg. Để xác minh các kỹ thuật đóng gói đã chuẩn chưa, nhân viên tại Khu vực H đã tiến hành các bài thử nghiệm thả hàng (bao gồm thả rơi tự do hàng hóa) nhằm tìm hiểu xem một khi rơi xuống đất thùng hàng có còn nguyên vẹn hay không.  Sau khi đóng hàng xong, các thùng chứa được chở bằng những đoàn xe đến máy bay đang đỗ sẵn tại các sân bay SOE hoặc USAAF. Sân bay chính của USAAF mà Khu vực H hỗ trợ là Harrington, nơi có bản doanh của Carpetbaggers (Nhóm oanh tạc số 801).

Hoạt động hậu cần của OSS trong Thế chiến II -0
Máy bay B-24 Liberator đã được sửa đổi của Nhóm oanh tạc 492/801 (tên gọi khác là “Carpetbaggers”) cất cánh từ căn cứ không quân Hoàng gia Anh ở Harrington năm 1944.

Hoạt động đặc biệt ở châu Âu 

Những toán Carpetbaggers đã đi tiên phong trong việc bay tầm thấp vào ban đêm trong các máy bay của USAAF. Tất cả nhiệm vụ được tiến hành vào thời kỳ trăng rằm, khi ánh trăng có thể hỗ trợ tầm nhìn của phi công. Các phi đội oanh tạc USAAF ở Châu Âu thường bám vào học thuyết ném bom chính xác vào ban ngày. Các phi công Carpetbaggers giữ yên dưới độ cao 609,6m đề phòng radar và lưới phòng không của Đức phát hiện cũng như tăng độ chính xác khi thả hàng. Một khi vượt qua mục tiêu, máy bay Carpetbaggers sẽ liên lạc với mặt đất bằng cách dùng một thiết bị được gọi là “điện thoại S” - một loại máy vô tuyến đất đối không tầm ngắn - nhằm cho phép đạt độ chính xác lớn hơn khi thả hàng. Nếu ban tiếp mặt đất không có “điện thoại S” thì họ sẽ liên lạc bằng đèn pin hoặc pháo hiệu. Các đợt thả hàng và nhân sự thường diễn ra ở độ cao từ 121,9m đến 182,8m và dưới 130 dặm/ giờ.

Tốc độ này gần bằng tốc độ ngưng của máy bay B-24, nhưng nó làm giảm độ sốc mở dù, giảm khả năng thiệt hại cho các vật chứa bên trong cùng thương vong cho các điệp viên. Tại những địa điểm khác, phi công sẽ thả truyền đơn để che giấu nhiệm vụ chính. Tháng 1/1944, USAAF bắt đầu thả hàng tiếp tế xuống Châu Âu. Những chuyến thả ban đầu này là phản ứng với nhu cầu ngày càng tăng ở Khu vực H. Các hoạt động thả hàng được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 2/1944, chỉ có 28 trong số 76 nhiệm vụ là thành công. Đến tháng 3/1944, tỷ lệ thành công được cải thiện là 44/72. Trong suốt 3 tháng đầu năm 1944, 6 điệp viên, 799 thùng hàng và 265 kiện hàng (và 1 triệu viên đạn dùng cho vũ khí nhỏ) đã được thả, thiệt hại 3 máy bay. Tháng 7/1944, các phi công Carpetbaggers được giao nhiệm vụ rước nhân sự từ Châu Âu về lại. Vài chiếc C-47 được gắn vào Carpetbaggers, và xuyên suốt tháng 9/1944 đã đưa về 76 điệp viên cũng như trục xuất 213 điệp viên địch.

Lịch trình làm việc tại Khu vực H hết sức khắt khe. Để cung cấp 10.000 thùng hàng mỗi tháng theo yêu cầu trong tháng 7/1944, 2 ca làm việc 8 tiếng ngoài giờ, 7 ngày/ tuần. Nhân viên đóng gói được nghỉ 1 ngày trong tuần. Các đợt tăng ca đột biến theo định kỳ cũng được yêu cầu. Khu vực H đã đóng 15.323 thùng hàng và các kiện hàng cho mỗi tháng. Nhiều đợt tăng cao trong số này đã đáp ứng những đợt thả lớn của USAAF cho kháng chiến Pháp, hoặc đợt ngày 19/9/1944 các phi công đã thả 1.084 thùng hàng cho kháng chiến Ba Lan - họ bị quân Đức vây hãm ở Warsaw. Sau tháng 9/1944, tiến độ ở Khu vực H chậm dần. Pháp - quốc gia chính về những hoạt động tiếp tế không vận - đã không còn cần tái cung nữa. Từ đó Carpetbaggers đã chuyển đổi những chiếc B-24 của họ để chở nhiên liệu trực tiếp cho Trung tướng S. Patton của Tập đoàn quân số 3, vốn vượt quá khả năng hậu cần của họ. Các phi công Carpetbaggers đã chuyển giao 822.791 lít nhiên liệu/ tháng.

Cuối cuộc chiến ở Âu Châu, nhóm oanh tạc 801/Nhóm oanh tạc 492 đã thả 551 điệp viên và 4511 tấn hàng tiếp tế, tổn thất 223 phi công. Đến lúc đó, quy mô hoạt động của họ bao phủ Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đức, Ý, Ba Lan và Na Uy. Tháng 11/1944, Khu vực H tái cung cấp đồ tiếp tế cho các lực lượng kháng chiến ở Đan Mạch và Na Uy. Các túi thư ngoại giao được đại diện chính phủ Na Uy lưu vong mang vào Thụy Điển. Sau khi cất giấu an toàn trong nhà kho của Công sứ Na Uy ở Stockholm, các túi thư được mở ra và tài liệu được tuồn vào Na Uy. Đến giữa tháng 12/1944, khoảng 6,5 tấn đồ tiếp tế đã được giấu ở Thụy Điển dùng cho Na Uy. Khu vực H đóng gói 10.000 thùng hàng / tháng dùng cho Na Uy và Đan Mạch; cũng như một phi đội Carpetbagger (Phi đội 856) được giữ lại khi chiến tranh chống Đức chấm dứt trong tháng 5/1945.

Nỗ lực hậu cần của OSS tại Khu vực H đã thành công ngoài sức tưởng tượng. Trong suốt năm 1944, khu vực này đã đóng gói 50.162 thùng hàng và được chở bởi các phi công RAF và USAAF. Trong 9 tháng đầu năm 1944, hơn 75.000 vũ khí nhỏ và 35.000 quả lựu đạn đã được gửi đi. Khu vực H đã cung cấp 96 tấn đồ tiếp tế cho Bỉ, 9 tấn cho Đan Mạch, 3,055 tấn cho Pháp, 119 tấn cho Ba Lan và 56 tấn cho Na Uy. Có một thực tế bị giấu kín đó là những điệp viên đứng sau phòng tuyến Đức đã trực tiếp làm nên hoạt động hậu cần của OSS ở Châu Âu.

Văn Chương (Tổng hợp)

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.