Ăn dâu nhả tơ
Một trong những nhu cầu của con người từ xưa đến nay là luôn luôn khát khao tìm kiếm và vươn tới cái chân thiện mỹ, hoặc những thành tựu về khoa học kỹ thuật mà mình mong muốn. Ví như, người ta có thể mô phỏng một kiểu kiến trúc, rồi xây dựng nó theo óc thẩm mỹ của riêng mình. Một bản nhạc jazz được phát triển trên cơ sở một môtíp nhạc cổ điển, theo một chủ đề tư tưởng nào đó. Nhật Bản là cường quốc về cải tiến kỹ thuật trên cơ sở những phát minh khoa học kỹ thuật đã có từ các nước khác, v.v. Ngôn ngữ cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
Giao thoa ngôn ngữ là một hiện tượng tự nhiên xảy ra ở bất cứ thời đại nào, bất cứ quốc gia nào. Trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn một câu thơ trong bài Khúc giang của nhà thơ đời Đường Đỗ Phủ: “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” (Người thọ bảy mươi, xưa nay hiếm). Nhưng chính câu thơ bất hủ này Đỗ Phủ đã lấy ý từ một câu ngạn ngữ cổ Trung Quốc: “Nhân sinh bách tuế, thất thập giả hy. (Đời người trăm tuổi, sống được bảy mươi hiếm lắm). Thi liệu có thể giống nhau, nhưng tác phẩm của hai thi nhân lại mang theo ý tưởng không giống nhau. Bài thơ Qua quán rượu của Vương Tích (585-644), nhà thơ Trung Quốc thời Tùy và sơ Đường, như sau:
Thử nhật trường hôn ẩm,
Phi quan dưỡng tính linh.
Nhãn khan nhân tận túy,
Hà nhẫn độc vi tinh.
(Bữa nay lại túy lúy,
Quan chi đến hình hài.
Kìa người say tất cả,
Riêng mình tỉnh với ai?)
là lấy ý từ bài Ngư phủ của Khuất Nguyên (340-278 Tr.CN):
Cử nhân giai trọc ngã độc thanh.
Chúng nhân giai túy, ngã độc tinh,
thị dĩ kiến phóng.
(Khắp đời đều đục, mình ta trong.
Mọi người đều say, mình ta tỉnh,
vì thế mà bị đuổi).
Tuy nhiên, hai thi nhân gửi gắm vào bài thơ của mình những tâm trạng không hẳn đã giống nhau, mặc dù thi liệu chẳng khác là bao. Vương Tích là người có tài mong “kiếm chút phong hầu”, nhưng giai cấp phong kiến nhà Tùy và đầu Đường đã không biết sử dụng hiền tài, lại gặp thời tao loạn, nên ông chẳng con đeo đẳng như xưa.
Cũng vì vậy mà tư tưởng của ông phức tạp và mâu thuẫn. Hồi trẻ ông chịu ảnh hưởng của Nho gia chính thống, lớn lên thấy tình hình thời cuộc bất như ý, ông lại tiếp thu tư tưởng thanh tịnh vô vi của đạo Lão, tự giải phóng mình khỏi lễ giáo, rượu chè mặc sức, tự ví mình với nhóm Thất hiền, rồi sinh ra yếm thế. Còn Khuất Nguyên từng được Sở Hoài Vương trọng dụng làm đến chức Tả đồ (chỉ dưới vua và Lệnh doãn, tức là quan Tể tướng sau này). Ông là người nước Sở, chủ trương liên Tề chống Tần, nhưng bị bọn xiểm nịnh đả kích, lại mắc mưu ly gián của Trương Nghi, nên ông bị cách chức và bị đi đày ở Hán Bắc. Vua cha chết trên đất Tần, tình hình nước Sở càng trở nên thối nát, vua con lên thay lại tiếp tục đày ông về Giang Nam. Vì triều đình không nghe lời khuyên của ông, nên năm 218 Tr. CN, nước Sở thân yêu của ông đã bị quân Tần tiêu diệt. Khuất Nguyên đã gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Bài Ngư phủ mang một tâm trạng bi phẫn như thế.
Về mặt giao thoa ngôn ngữ thì Truyện Kiều của Nguyễn Du là một hiện tượng đặc biệt. Chảy dài suốt 3.254 câu thơ, là những điển tích, điển cố, dân ca, ca dao, tục ngữ, v.v. Chẳng hạn, bài thơ cổ Tống phu biệt:
Nhân quy chích ảnh tam canh bạn,
Lữ khứ cô đơn vạn lý trình.
Thùy xả nguyệt luân vi lưỡng đoạn,
Bán phân cổ chẩm, bán trường đình.
(Người ra về làm bạn với chiếc bóng đêm khuya,
Kẻ lữ thứ ra đi cô đơn trong cuộc hành trình muôn dặm.
Ai sẻ vầng trăng làm hai đoạn,
Nửa chia cho chiếc gối đơn lẻ, nửa chiếu nơi trường đình).
Thi hào Nguyễn Du đã vận dụng tài tình vào bốn câu tả Thúy Kiều tiễn Thúc Sinh về quê (từ câu 1.523):
Người về chiếc bóng năm canh,
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.
Vầng trăng ai sẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.
Nơi gặp gỡ của những ý tưởng
Trưởng Lão Mãn Giác (1052- 1096) có bài kệ nổi tiếng:
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
(Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa nở.
Việc đời chạy nhanh trước mắt,
Tuổi già theo đến trên đầu.
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua trước sân có một cành mai).
Hai câu đầu, Trưởng Lão dùng thể văn vần ngũ ngôn, nêu quy luật tự nhiên (quy luật khách quan): Mỗi năm xuân về một lần. Xuân đi, rồi xuân đến. Qua sự luân hồi này con người cảm nhận được hình ảnh trăm hoa tàn, rồi trăm hoa nở. Hai câu tiếp theo, Trưởng Lão dùng thi liệu từ bài Thủy biên ngẫu đề của nhà thơ La Ẩn thời Đường (trích):
Thủy vô tình khứ bất hồi,
Thủy biên hoa hảo vị thùy khai.
Chỉ tri sự trục nhãn tiền khứ,
Bất giác lão tòng đầu thượng lai.
(Dòng sông vô tình đi không trở lại,
Bên sông hoa đẹp nở vì ai?
Chỉ biết sự việc đang ruổi trước mắt,
Bất giác nhận thấy tuổi già đã trèo lên đầu mình).
Tuy nhiên, nếu đọc cả bài, chúng ta dễ dàng nhận thấy, hai thi nhân chỉ mượn con thuyền nghệ thuật của chữ nghĩa để chuyển tải những tư tưởng hoàn toàn khác nhau: Một bên là thi nhân hốt hoảng, bất ngờ trước cuộc đời; một bên là thái độ ung dung tự tại trước việc tịch diệt.
Hai câu cuối, Trưởng Lão sử dụng thi liệu từ câu 3, câu 4 trong bài Tảo mai của Tề Kỷ (860-937):
Vạn mộc đống dục chiết,
Cô căn noãn độc hồi.
Tiền thôn thâm tuyết lý,
Tạc dạ nhất chi khai.
(Muôn cây cỏ mùa xuân tàn lụi
Riêng gốc mai, hơi ấm vẫn hài hòa
Trước thôn trong tuyết thẳm,
Đêm qua một nhành mai nở).
Ở đây, chúng ta lại bắt gặp Tề Kỷ cao ngạo, vì ông cho rằng, chỉ mình ông mới báo trước cho muôn loài biết xuân đang về, và cũng chính ông mới chịu được sự buốt giá của băng tuyết cuộc đời. Còn Trưởng Lão thì thầm kín, tế nhị hơn. Nói cách khác, “bài kệ của Trưởng Lão như một bức tranh chấm phá tươi tắn, và cũng như một dấu hỏi treo lơ lửng trước mắt nhiều thế hệ độc giả. Những ý tưởng hàm súc kia chỉ đơn thuần là triết lý tuần hoàn của nhà Phật, hay chính là một quan niệm mới mẻ về lẽ sống, một thái độ lạc quan coi sự sống là bất diệt, vượt lên cao hơn triết lý tuần hoàn. Đến nay, ý kiến đánh giá vẫn khác nhau. Tuy nhiên, dù khác nhau đến đâu, ai cũng phải thừa nhận giá trị thẩm mỹ đột xuất của nó so với những tác phẩm Phật giáo cùng thời”. (Nguyễn Huệ Chi).
Cũng cần nói thêm rằng, Đại sư Mãn Giác chùa Giáo Nguyên, Cứu Liên, người Lũng Triền, An Cách (không rõ địa điểm này ở đâu), họ Nguyễn, húy Trường, cha là Hoài Tố làm quan tới chức Trung thư Viên ngoại lang. Ông Trường sớm nổi tiếng cả Nho học và Phật học, nên trước khi vào cung, ông đã được vua Lý Nhân Tông (1072-1127) đặt tên cho là Hoài Tín. Sau khi đi tu, ông chu du nhiều nơi, đi tới đâu, người theo học rất đông, và trở thành nhân vật nổi tiếng trong thế hệ thứ tám dòng Thiền Quan bích.
Vua Lý Nhân Tông và Hoàng hậu rất trọng đãi ông, cho làm chùa bên cung Cảnh Hưng, mời ông đến trụ trì để tiện việc hỏi han giáo lý và bàn việc nước. Vua còn phong cho ông chức Nội đạo tràng, khi mất được ban hiệu Mãn Giác. Hẳn là ông muốn gửi gắm một phần tư tưởng chính thống của đạo Phật qua bài kệ trước khi vào cõi niết bàn.
Còn về cụm từ “Nhất chi mai”, hoặc “Tạc dạ nhất chi mai” thì xuất hiện rất nhiều trong thơ văn cổ, nhất là các bài kệ của các thiền sư Trung Hoa. Như Tục đăng lục năm 1097 có nhất chi mai; năm Gia Định 1208, có “Tuyết trung sơ tán nhất chi mai” của Định Tuệ Hải Ấn; “Đình tiền tiên trán nhất chi mai” của An Định Chu Thiền Sư (1597-1648). Bài Từ của Diên Thuật Nghiêu có câu: “Giang thôn tạc dạ nhất chi mai”.
Nhất chi mai còn xuất hiện cả trong giai thoại. Truyện kể rằng, vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) đi chơi, vào điện Thanh Thử, thấy sân điện có nhiều cây quế, liền ra vế đối để các quan hộ giá đối cho vui:
Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế,
(Trước điện Thanh Thử có ngàn gốc quế).
Các quan hộ giá không ai đối được. Hồ Quý Ly chợt nhớ lại câu thơ của một ai đó vạch trên bãi biển trong một lần đi buôn, mà chàng bắt gặp, bèn đối:
Quảng Hàm cung lý nhất chi mai.
(Trong cung Quảng Hàm có một cành mai).
Vua Trần Nghệ Tông hài lòng vì vế đối rất chỉnh đã đành, lại bất ngờ vì làm sao mà Hồ Quý Ly biết được tên tự của công chúa là Nhất Chi Mai, và cung ấy được nhà vua đặt tên là cung Quảng Hàm. Hai cái tên ấy đều chưa một ai biết, ngoài hoàng gia, bèn gả công chúa Nhất Chi Mai cho Hồ Quý Ly