Tính chất nhật ký của tập thơ:
Nhật ký vốn là một thể loại văn học riêng tư, nó không định tìm độc giả. Độc giả của nhật ký thường là chính tác giả. Người ta viết nhật ký để đánh dấu những năm tháng mình đã sống, bằng một hình thức văn học không trau chuốt, cốt sao khi đọc, người viết nhớ lại được các sự kiện đã trải. Hình thức văn chương cần chân thực và kịp thời. Với thơ, chúng tôi nghĩ các tiêu chí đó có thể bớt nghiêm khắc nhưng vẫn là cần thiết. Khi "Nhật ký trong tù" được giới thiệu với bạn đọc Châu Âu, cũng đã có một số ý kiến phân vân: Liệu đây có đúng là nhật ký không, hay chỉ là hồi ký? Bởi trong lịch sử rất ít nhân vật nổi tiếng công bố nhật ký, phơi bày phần hậu trường riêng tư rất ngày thường của mình ra thiên hạ. Người ta có thể vĩ đại trong sự nghiệp, trong các chiến công hiển hách, nhưng quả là thật khó vĩ đại trong đời thường. Phương ngôn Pháp có câu "Không có vĩ nhân trong con mắt của người hầu phòng" là vì vậy. Nhưng rồi bạn đọc rộng rãi xác nhận tập thơ đúng là nhật ký bởi trong đó rất nhiều việc tầm thường, thậm chí thiếu thẩm mỹ theo quan niệm văn chương mỹ tự, đã được trung thực ghi lại như việc gãi ghẻ, việc ngồi trên hố xí, cả đến việc "đến buồn đi ỉa cũng không cho".
Chính vì là nhật ký mà chúng ta được thấy trực diện hơn so với một tác phẩm hư cấu, lối sống, phép ứng xử thường ngày của Hồ Chí Minh, đặc biệt là phép ứng xử trong tình thế ngặt nghèo, thua thiệt của một người tù.
- Ấy là việc tận dụng thời gian ở tù để tạo một tập thơ tới 133 bài, bộc lộ trước thế gian một triết lý sống thiết thực và sâu sắc và một năng lực tư duy thơ kỳ lạ. Trong đời, Hồ Chí Minh không có thời gian dành cho thơ, Người từng khất "Việc quân đang bận xin chờ hôm sau". Đã có lúc tôi nghĩ lẩn thẩn: Nếu không có cái bất hạnh ở tù, không biết có cơ hội nào để Hồ Chí Minh bộc lộ năng khiếu thơ và để có nhật ký mà giãi bày tâm sự.
- Ấy là một tư thế ngắm trăng: Nhìn thẳng vào song sắt nhà tù để vươn tới ánh sáng vầng trăng "nhân hướng song tiền vọng minh nguyệt". Sâu sắc hơn, là tìm ra hạnh phúc cụ thể của đời sống ngay trong lúc này và tại đây. Bản thân việc ngắm trăng trong tù đã là mẫu mực của một cuộc vượt ngục. Mở đầu cuộc ngắm trăng, Hồ Chí Minh là người tù, cuối cuộc - người tù biến mất, thay vào đó là một nhà thơ: "Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ/ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ".
- Ấy là mối tương quan giữa vị trí và ý chí: Thân trong lao, tinh thần ngoài lao; thân trên hố xí, lòng tính đến tương lai "xí khanh thượng tọa đãi triêu lai" (ngồi trên hố xí đợi ngày mai).
- Ấy là việc giành chủ động nhưng không sa vào phép "thắng lợi tinh thần" kiểu AQ (Lỗ Tấn): Trước lúc ung dung ngắm trăng đã xác định tình thế hiện thực của chính mình: trong tù, không rượu, không hoa; trước lúc nói hứng thú của chim hót, hoa thơm đã không quên thân phận bị động của mình: bị trói chân tay. Cách giành chủ động của người tù Hồ Chí Minh không phải là cách nói đại ngôn, khẩu khí mà thiết thực, đầy tính khả thi. Chân tay bị trói thì tìm chỗ nó không trói được (tai, mũi) mà giành lấy tự do "Mặc dù bị trói chân tay/ Chim ca rộn núi hương bay ngát rừng/ Mê say ai cấm ta đừng".... Nó là cách sống ở đời, không phải chuyện văn chương đại ngôn, tu từ bóng bẩy
- Ấy là tính trào lộng nhẹ nhàng những đau khổ của mình để vượt lên chính đau khổ ấy: tả nốt ghẻ trên thân như mặc áo gấm; tả gãi ghẻ như gẩy đàn.
- Ấy là điều sửng sốt: Ngay trong những việc tầm thường hàng ngày của thân phận tù tội, người đọc lại phát hiện ra phẩm cách lớn của con người: Trong bài "Ghẻ", nhân vật chính trị kiệt xuất Nguyễn Ái Quốc ở thời điểm 1942 - 1943 coi những người tù trong nhà giam cấp huyện, vốn là đám cặn bã xã hội, là bạn quý, là tri âm (Mặc gấm, bạn tù đều khách quý/ Gảy đàn trong ngục thảy tri âm). Một cuộc lặn đời mình vào những phận người dưới đáy mà không cần nín thở.
Học lối sống, học đạo đức Hồ Chí Minh trước nhất nên học ở giai đoạn này.
Tính cách tân trong quan niệm thẩm mỹ xuất phát từ đời sống
Khái niệm cái nên thơ trong tập "Nhật ký trong tù" là một khái niệm có tính cách tân táo bạo. Để nói quan niệm mới mẻ về thơ của Hồ Chí Minh, chúng ta quen trích dẫn những câu thơ như tuyên ngôn nghệ thuật của tác giả trong bài "Cảm tưởng đọc Thiên gia thi". Chúng ta mới đồng ý với việc tìm thơ không chỉ ở mây gió trăng hoa tuyết núi sông mà cả ở nơi có thép, trong khi Hồ Chí Minh, ở tác phẩm này, đã tìm thơ bất cứ nơi nào có đau đớn, hy vọng của con người. Hồ Chí Minh không ngại cả đến động từ "đi ỉa" để nói nỗi khổ của sự mất tự do, con người không bằng con vật "Đến buồn đi ỉa cũng không cho/ Cửa tù khi mở không đau bụng/ Đau bụng thì không mở cửa tù". Cái hay của phẩm cách đã vượt lên cái hay của thể cách. Quan niệm ấy đã gặp những cách tân táo bạo nhất của thơ hiện đại.
Tính thống nhất thi pháp trong cả đời thơ:
Khi viết "Ngắm trăng", Hồ Chí Minh ở thân phận một người tù, khi viết "Cảnh khuya", "Nguyên tiêu" sau này, Hồ Chí Minh đã là nguyên thủ quốc gia, nhưng trong cảm xúc và cả trong bút pháp vẫn thống nhất một con người ấy. Cảm xúc đắm say thiên nhiên, đến trộn lẫn con người chính trị với con người thơ ca, trộn lẫn tư duy minh bạch với tư duy thơ đa nghĩa. Bút pháp ảnh hưởng Đường thi nhưng có khuynh hướng kéo về hiện thực. Cả trong thơ tù lẫn trong thơ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nhiều lúc Hồ Chí Minh lảy Đường thi sách vở tạo nên nét cười đời sống rất hóm. Từ "Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu" (Mời anh cạn nốt chén này) rất tao nhân mặc khách thành ra "Khuyến quân thả ngật nhất cá bão" (Khuyên anh cứ chén cho no bụng) thực dụng thẳng thừng mà thương người sâu sắc. Nét trào lộng của việc đánh bạc trong tù với kiểu nói trạng trong bài thơ có câu kết "Bỗng nghe vần thắng vút lên cao" chính là hai mạch tự một nguồn tư duy sắc sảo, ẩn giấu nét cười sắc nhọn của tư duy phương Tây dưới chòm râu hiền triết phương Đông. Nghiên cứu sự thống nhất thi pháp ấy từ nhật ký viết trong tù đến những bài trữ tình của vị Chủ tịch nước sau này, chắc chắn sẽ cho nhiều khám phá bất ngờ về cảm hứng thơ Hồ Chí Minh