Ngày 14/9, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Long phối hợp Cục Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo khoa học “Đề xuất giải pháp về cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào thực tiễn sản xuất - Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long”.
Không để công nghệ "nằm trên giấy"
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Quỳnh Thiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long, cho biết thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đặc biệt quan tâm hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý mới cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo đó, hệ thống pháp luật quan trọng từng bước được hoàn thiện, trong đó có Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Tư duy chính sách cũng có sự chuyển biến rõ hơn, lấy kết quả, hiệu quả ứng dụng và đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội làm trọng tâm, thay vì chỉ chú trọng số lượng đề tài, báo cáo hay công bố khoa học.
Nhìn từ mục tiêu đưa nhanh kết quả nghiên cứu, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long cho rằng các quy định mới đã tạo ra nhiều điểm nhấn quan trọng. Trong đó, quyền đối với kết quả nghiên cứu được xác lập rõ hơn, tạo điều kiện khai thác, ứng dụng và thương mại hóa; cơ chế tài chính được mở rộng để hỗ trợ quá trình đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường; doanh nghiệp được khuyến khích tham gia sâu hơn vào hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Cùng với đó, pháp luật về chuyển giao công nghệ chuyển mạnh theo hướng thúc đẩy ứng dụng và làm chủ công nghệ, đồng thời tăng cường liên kết giữa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ.
Từ thực tế này, các địa phương, viện, trường cần rà soát toàn bộ kết quả nghiên cứu, công nghệ, sáng kiến và tiến bộ kỹ thuật đã có; phân loại theo mức độ sẵn sàng công nghệ, nhu cầu thị trường và khả năng ứng dụng. Trên cơ sở đó, xác định những kết quả có thể đưa ngay vào sản xuất, những công nghệ cần tiếp tục hoàn thiện và những mô hình có khả năng nhân rộng.
Một yêu cầu quan trọng khác là thay đổi cách đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hiệu quả không chỉ được đo bằng số đề tài nghiệm thu, báo cáo hay công bố, mà cần được đánh giá bằng số kết quả được ứng dụng, công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp tiếp nhận, sản phẩm mới được hình thành và giá trị kinh tế - xã hội tạo ra.
Công nghệ phải giải được "bài toán" của đồng bằng
Ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, nhấn mạnh cơ chế đối với kết quả nghiên cứu hiện đã thông thoáng hơn, tạo điều kiện khai thác, chuyển giao và thương mại hóa. Chính sách tài chính cũng quan tâm nhiều hơn đến giai đoạn đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường, trong khi doanh nghiệp ngày càng được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo.
Theo ông Chu Thúc Đạt, vấn đề hiện nay không còn đơn thuần là “đã có chính sách hay chưa”, mà quan trọng là tổ chức thực hiện như thế nào để công nghệ thực sự đi vào sản xuất và đời sống.
Đối với Vĩnh Long và ĐBSCL, yêu cầu này đặc biệt thiết thực bởi đây là vùng có thế mạnh về nông nghiệp, thủy sản và kinh tế biển, nhưng cũng chịu tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu, đồng thời phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao hơn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và giá trị gia tăng.
Vĩnh Long đang tập trung nâng cao giá trị các sản phẩm chủ lực như lúa gạo, cây ăn quả, dừa, cây màu, hoa kiểng, chăn nuôi và thủy sản; đẩy mạnh sản xuất công nghệ cao, hữu cơ, phát triển vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và liên kết sản xuất - tiêu thụ. Đây chính là những bài toán thực tiễn cần sự tham gia trực tiếp của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong sản xuất lúa gạo, cần đẩy mạnh ứng dụng giống mới, canh tác chính xác, tự động hóa, quản lý nước, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu, gắn với yêu cầu của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Đối với cây ăn quả và ngành dừa, cần chú trọng công nghệ giống, bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu, công nghệ sinh học, tận dụng phụ phẩm, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu. Với thủy sản và các vùng sản xuất mặn, lợ, cần tăng cường công nghệ quan trắc môi trường, giống, thức ăn, phòng trừ dịch bệnh, nuôi trồng tuần hoàn và các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, công nghệ sau thu hoạch, logistics, kho lạnh, chế biến và thương mại điện tử cần được quan tâm hơn, bởi đây là những khâu có khả năng trực tiếp nâng cao giá trị nông sản, giảm tổn thất và mở rộng thị trường.
Các công nghệ, tiến bộ kỹ thuật không chỉ dừng ở mô hình trình diễn mà phải được doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tiếp nhận, làm chủ và nhân rộng. Muốn vậy, cần hình thành quy trình liên kết thông suốt giữa Nhà nước, viện, trường, doanh nghiệp, nhà khoa học và các tổ chức trung gian, từ khâu nghiên cứu, hoàn thiện, bảo hộ, chuyển giao đến ứng dụng và thương mại hóa.
“Điều quan trọng là phải biến các cơ chế, chính sách mới thành những việc làm cụ thể, những dự án cụ thể và những sản phẩm cụ thể. Từ một kết quả nghiên cứu phải có doanh nghiệp tiếp nhận; từ một công nghệ phải có nơi ứng dụng; từ một mô hình phải có khả năng nhân rộng; và cuối cùng phải tạo ra giá trị thực cho doanh nghiệp, người dân và địa phương”, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo nhấn mạnh.