Khi đồng minh “thấy” bị bỏ rơi
Học giả quan hệ quốc tế John Mearsheimer cho rằng việc Seoul và Tokyo hạt nhân hóa sẽ là “kết quả tất yếu” nếu Mỹ tiếp tục bị phân tán bởi các cuộc xung đột ở Trung Đông. Trong khi đó, nhà bình luận Max Boot của The Washington Post lập luận rằng mức độ tin cậy ngày càng bất định của “chiếc ô hạt nhân” Mỹ có thể thúc đẩy Hàn Quốc tìm kiếm năng lực răn đe hạt nhân riêng.
Những suy đoán này có vẻ không gây ngạc nhiên và cũng không phải chưa từng có trong tiền lệ. Trong thập niên 1970, Hàn Quốc từng tìm cách phát triển một chương trình hạt nhân bí mật do lo ngại Mỹ bỏ rơi, nhưng không thành công. Môi trường an ninh đối với Seoul và Tokyo được đánh giá hiếm khi bất định như hiện nay.
Trung Quốc đang trong quá trình mở rộng mạnh mẽ kho vũ khí hạt nhân, với quy mô được cho là đã tăng hơn gấp đôi trong vòng 5 năm qua. Một số ước tính dự báo rằng, đến năm 2030, Bắc Kinh có thể sở hữu hơn 1.000 đầu đạn hạt nhân. Trong khi đó, năm 2023, Nga lần đầu tiên triển khai vũ khí hạt nhân chiến thuật ra ngoài lãnh thổ kể từ khi Liên Xô tan rã. Đến năm 2024, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã sửa đổi học thuyết hạt nhân, hạ thấp ngưỡng sử dụng vũ khí hạt nhân của Moscow.
CHDCND Triều Tiên được cho là đang sở hữu khoảng 50 đầu đạn hạt nhân và đủ vật liệu phân hạch để chế tạo thêm 50 đầu đạn khác. Sự hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài giúp Bình Nhưỡng đẩy nhanh quá trình phát triển nhiều loại tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo mang được đầu đạn hạt nhân. Trong khi đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump thì luôn yêu cầu Hàn Quốc và Nhật Bản đóng góp nhiều hơn cho an ninh của chính họ, đồng thời điều chuyển các hệ thống tên lửa Patriot và THAAD (hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối) khỏi Hàn Quốc, cùng lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ từ Nhật Bản sang Trung Đông khi xảy ra cuộc chiến với Iran.
Ngày càng nhiều tiếng nói có tầm ảnh hưởng tại Seoul và Tokyo dường như củng cố nỗi lo rằng sự kết hợp của các mối đe dọa này có thể đẩy Hàn Quốc và Nhật Bản vượt qua lằn ranh hạt nhân. Năm 2023, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol từng nhấn mạnh rằng nước này “có thể nhanh chóng phát triển vũ khí hạt nhân riêng” nếu mối đe dọa tiếp tục gia tăng. Đến tháng 2/2025, Ngoại trưởng Cho Tae Yul tuyên bố khả năng trang bị hạt nhân “không nằm ngoài nội dung bàn thảo”. Tại Nhật Bản, cuối năm 2025, phát biểu của một quan chức cấp cao giấu tên, cố vấn cho Thủ tướng Sanae Takaichi, bày tỏ quan điểm cá nhân rằng nước này nên sở hữu bom hạt nhân, đã gây phản ứng trong dư luận. Tuy nhiên, một số chính trị gia, trong đó có cựu Bộ trưởng Quốc phòng Taro Kono, cho rằng Nhật Bản không nên né tránh một cuộc tranh luận rộng hơn về mặt lợi và hại của việc hạt nhân hóa.
Những phát biểu trên cũng không hoàn toàn đi ngược lại dư luận. Các cuộc thăm dò tại Hàn Quốc cho thấy tỷ lệ ủng hộ trang bị vũ khí hạt nhân có thể lên tới 75-80%. Trong khi đó, tại Nhật Bản, nguyên tắc “3 không về hạt nhân” - không sở hữu, không sản xuất và không cho phép vũ khí hạt nhân hiện diện trên lãnh thổ - vẫn nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ. Tuy nhiên, hơn 56% người dân Nhật Bản đã bày tỏ ủng hộ việc mở các cuộc thảo luận về những vấn đề từng được coi là cấm kỵ này.
Tuy nhiên, thực ra nỗi lo ngại về việc Hàn Quốc và Nhật Bản đang ở sát ngưỡng hạt nhân hóa có phần bị phóng đại. Phần lớn “giới tinh hoa chiến lược” - gồm các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức, lãnh đạo doanh nghiệp, học giả và chuyên gia - ở cả hai nước đều không ủng hộ việc phát triển vũ khí hạt nhân, ít nhất là vào thời điểm hiện tại. Có điều, sự do dự đó không phải là vô điều kiện, bởi nó phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các mối đe dọa cũng như hành động của từng đồng minh. Nếu Seoul hoặc Tokyo quyết định bước qua ngưỡng hạt nhân, bên còn lại có thể nhanh chóng làm theo. Vì vậy, dù đang phải xử lý nhiều thách thức cấp bách ở các khu vực khác trên thế giới, Washington vẫn cần tái khẳng định cam kết răn đe mở rộng tại châu Á nhằm ngăn cản các đồng minh đưa ra quyết định này.
Nỗi lo phổ biến vũ khí hạt nhân
Các cuộc thăm dò dư luận và những phát biểu gây chú ý trên truyền thông hiện chi phối phần lớn tranh luận công khai về vấn đề hạt nhân tại Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên, như nhà khoa học chính trị Elizabeth Saunders từng lập luận, trong các quyết định an ninh quốc gia, quan điểm của giới tinh hoa chiến lược thường có ảnh hưởng lớn hơn so với dư luận nói chung.
Nhiều hệ thống Patriot và THAAD đã được Mỹ điều chuyển khỏi Hàn Quốc để bổ sung cho cuộc chiến tại Trung Đông.
Trong một cuộc khảo sát hồi giữa năm 2025 với 860 nhân vật thuộc giới tinh hoa chiến lược tại Hàn Quốc và 515 người tại Nhật Bản, bao gồm các chuyên gia chính sách đối ngoại có uy tín tại mỗi nước, thường xuyên tham gia các hội nghị của viện nghiên cứu, trường đại học và các đối thoại kênh II về an ninh quốc gia, kết quả cho thấy quan điểm của họ về vũ khí hạt nhân thận trọng hơn nhiều so với những tiếng nói ủng hộ hạt nhân hóa thường được truyền thông nhấn mạnh.
Bất chấp môi trường an ninh ngày càng xấu đi và những bất định trong chính sách đối ngoại “nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Trump, phần lớn giới tinh hoa ở cả Hàn Quốc và Nhật Bản đều không ủng hộ việc phát triển vũ khí hạt nhân. Khi được hỏi liệu nước họ có nên sở hữu vũ khí hạt nhân hay không, 75% giới tinh hoa chiến lược tại Hàn Quốc và 79% tại Nhật Bản trả lời không đồng ý hoặc chưa chắc chắn.
Trong nhóm phản đối hạt nhân hóa, 67% số người được hỏi tại Hàn Quốc và 65% tại Nhật Bản cho rằng việc sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ không giúp đất nước của họ an toàn hơn. Khi buộc phải lựa chọn một phương án hạt nhân, đa số trong nhóm hoài nghi này - gồm 62% tại Hàn Quốc và 54% tại Nhật Bản - cho biết họ muốn theo đuổi cơ chế chia sẻ hạt nhân trong khuôn khổ liên minh với Mỹ hơn là tự phát triển năng lực hạt nhân riêng.
Khoảng cách giữa quan điểm của giới tinh hoa và dư luận đại chúng có thể phần nào xuất phát từ việc giới tinh hoa hiểu rõ hơn các chi phí về uy tín và vật chất nếu một quốc gia quyết định hạt nhân hóa. Tại Hàn Quốc, 35% số người không ủng hộ hạt nhân hóa cho rằng nguy cơ bị trừng phạt và mất uy tín quốc tế là lý do chính khiến họ phản đối lựa chọn này. Chỉ 6% trong nhóm này hoàn toàn đồng ý rằng vũ khí hạt nhân sẽ giúp tăng cường an ninh quốc gia.
Tại Nhật Bản, phần lớn giới tinh hoa phản đối hạt nhân hóa - chiếm 25% - lo ngại việc sở hữu vũ khí hạt nhân có thể châm ngòi một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tại Đông Bắc Á. Thêm 18% bày tỏ quan ngại về nguy cơ trừng phạt và suy giảm uy tín quốc tế. Chỉ 5% tin rằng việc có vũ khí hạt nhân sẽ giúp Nhật Bản an toàn hơn.
Dù vậy, truyền thông trong nước và quốc tế vẫn có xu hướng nhấn mạnh quá mức tiếng nói của một bộ phận thiểu số ủng hộ hạt nhân hóa. Điều này có thể sẽ tạo ra nhận thức lệch lạc về đồng thuận an ninh quốc gia cốt lõi tại cả Hàn Quốc và Nhật Bản, đồng thời tác động tới cách Mỹ nhìn nhận chính sách Đông Á. Một trong những ví dụ là việc chính quyền cựu Tổng thống Joe Biden trước đây đã cho tàu ngầm hạt nhân cập cảng Hàn Quốc. Động thái này được thực hiện không chỉ nhằm tăng cường răn đe đối với Bình Nhưỡng, mà còn để xoa dịu điều mà Washington cho là mong muốn hạt nhân ngày càng lớn của Seoul.
Bất an trước ảnh hưởng của Mỹ
Dù tâm lý hoài nghi hạt nhân vẫn chiếm ưu thế trong giới hoạch định chính sách Hàn Quốc và Nhật Bản, quan điểm của giới tinh hoa chiến lược ở cả hai nước không phải là bất biến. Niềm tin suy giảm vào cam kết an ninh của Mỹ có thể khiến các nhà hoạch định chính sách tại Seoul và Tokyo phải tính toán lại.
Khi được đặt vào kịch bản giả định Mỹ cắt giảm hiện diện quân sự trên Bán đảo Triều Tiên, 55% giới tinh hoa Hàn Quốc và 23% giới tinh hoa Nhật Bản vốn phản đối hạt nhân hóa cho biết mức độ ủng hộ của họ đối với việc nước này sở hữu vũ khí hạt nhân sẽ tăng lên. Kịch bản Mỹ rút bớt lực lượng có tác động mạnh nhất đối với nhóm có quan điểm lưỡng lự. Trong số những người ban đầu chưa chắc chắn về khả năng phát triển vũ khí hạt nhân, 84% người được hỏi tại Hàn Quốc và 62% tại Nhật Bản cho biết họ sẽ ủng hộ hạt nhân hóa nhiều hơn nếu Mỹ giảm hiện diện quân sự.
Thúc đẩy “3 bên hóa” thảo luận giữa Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ phần nào làm yên lòng các đồng minh.
Tuy nhiên, việc Mỹ rút bớt lực lượng khỏi châu Á không phải là kịch bản duy nhất có thể làm gia tăng mức độ ủng hộ hạt nhân hóa. Khi được hỏi về kịch bản giả định Nhật Bản sở hữu vũ khí hạt nhân, 79% giới tinh hoa Hàn Quốc vốn phản đối hạt nhân hóa cho biết họ sẽ ủng hộ hơn việc nước này phát triển năng lực hạt nhân riêng. Tương tự, 63% giới tinh hoa Nhật Bản vốn phản đối lựa chọn này cho biết họ sẽ tăng mức độ ủng hộ đối với việc đất nước sở hữu vũ khí hạt nhân. Cũng trong kịch bản Mỹ rút quân, nhóm có quan điểm chưa rõ ràng là nhóm dễ thay đổi nhất. Có tới 90% giới tinh hoa Hàn Quốc và 77% giới tinh hoa Nhật Bản ban đầu còn lưỡng lự cho biết họ sẽ ủng hộ việc phát triển vũ khí hạt nhân hơn nếu nước kia thực hiện trước.
Theo khảo sát, 58% giới tinh hoa Nhật Bản ủng hộ hạt nhân hóa cho rằng nguyên nhân chính thúc đẩy quan điểm này là việc Mỹ thiếu một cam kết an ninh dài hạn rõ ràng đối với Nhật Bản. Tại Hàn Quốc, dù mối đe dọa an ninh luôn trực chờ, thì cũng có tới 24% số người có lập trường ủng hộ hạt nhân cũng bày tỏ quan ngại tương tự về độ tin cậy của Mỹ.
Về phần mình, rõ ràng là Mỹ có vai trò rất lớn trong việc định hình nhận thức này, và qua đó duy trì khả năng ngăn chặn nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân. Chính quyền Tổng thống Trump đã kêu gọi các đồng minh của Mỹ tại châu Á và châu Âu tăng chi tiêu quốc phòng. Tuy nhiên, ngay cả khi thúc ép các đồng minh gánh vác thêm trách nhiệm an ninh, Washington vẫn có thể tìm cách trấn an Tokyo và Seoul về các cam kết liên minh.
Một cơ chế đối thoại về răn đe hạt nhân mở rộng với từng đồng minh, đồng thời tiến tới “3 bên hóa” thảo luận giữa Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc là điều mà Mỹ cần phải tính đến. Việc mở rộng chia sẻ thông tin trong phòng thủ tên lửa giữa các khí tài trên biển của Nhật Bản và hệ thống trên bộ của Hàn Quốc, tổ chức diễn tập ứng phó với nhiều cuộc tấn công tên lửa đồng thời, cũng như phối hợp sản xuất các hệ thống đánh chặn, sẽ là những bước đi cụ thể để thể hiện cam kết của Mỹ và giúp giảm bớt lo ngại về nguy cơ bị bỏ rơi.