Sông Mê Công, người Trung Hoa gọi là sông Lan Thương, tuy bắt nguồn từ Tây Tạng, cũng qua Vân Nam rồi đổ vào Nam Bộ Việt Nam. Con sông Trường Giang (Dương Tử) nổi tiếng cũng chảy qua Vân Nam với cái tên Kim Sa Hà, nơi thầy trò Đường Tăng, trên đường thỉnh kinh, thu phục thêm Sa Tăng cần mẫn và chung thủy.
Khi làm phim Tây du ký, đạo diễn cũng chọn Rừng Đá (Thạch Lâm) Vân Nam cho nhiều cảnh, đặc biệt là cảnh Tôn Ngộ Không bị Như Lai đè - đày ở Ngũ Hành Sơn suốt 500 năm. Cái lỗ đá để ông Hành Giả khỉ thò đầu ra, giờ vẫn còn đó và trở thành nơi để bao du khách chui đầu qua mà chụp hình kỷ niệm.
Chưa hết, khi ký được hiệp định khai thác Vân Nam với Từ Hy Thái Hậu nhà Thanh, những năm 1909 - 1910, người Pháp cho làm đường sắt khổ nhỏ (1,1m) Côn Minh - Lào Cai để chở sản vật Vân Nam về Hải Phòng qua Hà Nội và ngược lại, chở máy móc thiết bị, hàng hoá Pháp tới Vân Nam.
Sử sách ghi rõ, khi chưa có đường sắt này, kim ngạch xuất khẩu của Vân Nam chỉ là 1.200 vạn lạng bạc. Đến năm 1912, đã đạt 2.200 vạn lạng, và năm 1927 lên tới 3.000 vạn lạng. Tới nửa đầu thập niên 40 của thế kỷ XX, 2/3 vật tư, nông lâm sản xuất nhập của Vân Nam đi theo con đường này.
Lúc ấy, xe lửa Pháp còn chạy nhanh hơn ôtô Vân Nam, vì đường bộ hẹp, xấu, đèo dốc nhiều, rất đắt và bất tiện. Thế là, đường sắt Côn Minh - Hải Phòng có sớm hơn cả các tuyến đường sắt nối Côn Minh với nội địa Trung Hoa. 50 năm sau, Trung Hoa mới có đường sắt Côn Minh - Thành Đô (thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên), giáp bắc Vân Nam. Sau đó, họ làm thêm các tuyến Côn Minh - Quý Dương (tThủ phủ tỉnh Quý Châu), giáp đông bắc Vân Nam, và gần đây, họ làm thêm để tới Nam Ninh (thủ phủ tỉnh Quảng Tây, giáp tây nam Vân Nam).
Đến năm 2006, mới có đường sắt tới Đại Lý mà bây giờ, có lẽ đã kéo dài tới Lệ Giang. Họ cũng đã lên kế hoạch khôi phục và cải tạo đường sắt cũ của Pháp, tức là tuyến đường sắt cổ nhất khổ 1,1 m, thành tuyến 1,4 m, để đi lại, đặc biệt là để vận tải, đường sắt vốn có ưu thế ở các vùng nhiều núi non, khe, hẻm.
Người Trung Hoa giờ vẫn trách Từ Hy vì đã yếm thế và nhẹ dạ mà cho người Pháp làm đường sắt Vân Nam (Côn Hà thiết lộ). Nhưng cũng vì người Pháp đến, đem nho Pháp theo ăn, hạt vứt xuống đất, ai ngờ quá hợp thung thổ, nho Pháp tốt bời bời ở Vân Nam. Bây giờ, cả huyện Di Lặc (nằm trên đường Lào Cai - Côn Minh) là một huyện nho.
Bên đường, mùa xuân, nho đã rụng hết lá, vườn trại bạt ngàn, đang lấm tấm hoa. Bây giờ, người Vân Nam bảo, họ còn giữ và nhân được cả những giống nho quý ngày xưa, mà nay ở Pháp đã bị thất truyền! Bây giờ, Vân Nam là thành viên Hiệp hội Rượu nho quốc tế. Bây giờ, rượu nho Vân Nam đã được đưa vào thực đơn của chính phủ Trung Hoa, vào các bữa tiệc chiêu đãi khách quốc tế…
Từ Hà Khẩu (giáp Lào Cai của ta) đến Côn Minh, đường bộ dài 480 cây số, nhiều khi chạy song song với đường sắt 1,1 m của người Pháp xưa kia, giờ bỏ đó. Hà Khẩu cao hơn mực nước biển 76 mét, Côn Minh cao 1.900 mét. Thế là đi từ Hà Khẩu đến Côn Minh, ta đã "lên giời" được gần 2 cây số.
Vì "lên giời" nhanh thế nên càng đi, nước càng sôi ở nhiệt độ thấp (càng dưới mốc 1000C) và vì thế, cơm ngày càng không "chín", chỉ là "cơm tám", "cơm bảy" thôi, tức là càng không ngon! Nước pha trà cũng vậy. Chúng tôi đã đến trung tâm trà Vân Nam ở Côn Minh, uống trà hạng nhất Vân Nam là trà Phổ Nhị.
Đầu tiên là uống trà sinh thái vừa làm, sau đó uống trà viên (để 2 năm), cuối cùng là trà đóng bánh (để 3 năm). Hương trà không có gì đáng nói. Vị trà thì tuỳ độ đặc - loãng mà đậm - nhạt, nhưng nếu ai bị táo bón, dùng cốc to uống ba ngày liền, bỏ thêm vào đó mấy hạt muối, ngày thứ tư sẽ khỏi. "Thế là trà thuốc còn gì?"- tôi đùa. Nhà hàng cười, gật đầu.
Chỉ có hai điều nên lưu ý: Thứ nhất, khi nâng chén trà Phổ Nhị, dù bằng tay phải hay tay trái, thì hai ngón - cái và trỏ - phải cầm vào miệng chén, gọi là "Lưỡng long tranh châu". Ngón út của đàn ông phải gập vào lòng tay. Nếu chìa ngón út ra, đó là cách bưng trà của thái giám và đàn bà rồi! Thứ hai, dù chén trà có nhỏ đến đâu, cũng chỉ được uống hết sau 3 lần nhắp môi.
Cạn chén bằng 1 hớp, người xung quanh sẽ bảo: "Kìa! Trâu uống". Ấy là vì trà Phổ Nhị còn được gọi là Cẩm trà (Trà gấm). Mua Phổ Nhị trà về Việt Nam, ở nơi đất thấp, nước sôi 1000C, uống ngon hơn. Có điều, nên mua theo ít nhất là 1 chiếc chén "quân" có hình rồng màu nâu in ngoài.
Khi rót nước vào chén, nếu là nước sôi thật, con rồng nâu sẽ chuyển sang màu đỏ. 3 hộp trà (sinh thái, viên và bánh) với 1 cái ấm và 6 cái chén, giá bây giờ là 380 tệ, tức là 1.254.000 đồng Việt, một phòng 5 - 6 người có thể uống được cả tháng. Chỉ có điều, uống xong thì khỏi táo bón, nhưng lại ngồi nhớ… trà Thái Nguyên! Tôi chả mua.
Đi công chuyện thì không nói làm gì - Côn Minh có sân bay hạng nhất quốc gia, lại đang làm một sân bay nữa - nhưng nếu gọi là đi chơi, thì phải đi đường bộ. Đường bộ Hà Khẩu - Côn Minh là con đường rất thú vị. Con đường ấy, chạy qua các địa danh: Huyện Hà Khẩu (vốn xưa là xã Hà Khẩu, nay vì vai trò của cửa khẩu quốc tế Hà Khẩu mà được cắt thêm đất, lập thành huyện) - châu Hồng Hà (thủ phủ là Mông Tự), với thị xã thứ hai là thành phố Khai Viễn - huyện Di Lặc - huyện Thạch Lâm - huyện Di Lương (hay Nghi Lương cũng được) - huyện Trịnh Cống - thành phố Côn Minh. Đường khá tốt. Riêng đoạn Hà Khẩu - Mông Tự, chỉ dài có 150 cây số, nhưng đã được chui qua 22 cái hầm xuyên núi, không song song với đường sắt cũ của Pháp nữa.
Hầm rộng, thường là một chiều, dài nhất cũng chỉ cỡ một cây số, không đoạn đường nào cheo leo cả. Càng đi, cảnh - vật - phong tục càng lạ. Qua huyện Hà Khẩu, vốn nhiều người Dao, không khác Lào Cai mấy, chỉ được cái nhiều rừng cao su. Mùa đông vừa rồi, gặp rét và hạn, cao su hết lá xanh, chỉ thấy bạt ngàn một màu héo úa.
Không biết cao su trốn rét mà thay áo, hay thực ra là đã chết rồi? Đến châu Hồng Hà, vốn là đất của các dân tộc Di và Cáp Nê (Hà Nhì) xưa, thì mênh mông là những đồng và đồi trồng lựu. Lựu mùa xuân đang nhú hoa, cây nọ cách cây kia chừng 2 mét, mỗi cây cũng cao gần bằng chừng ấy, trải dài, lan rộng hút tầm mắt.
Lựu Hồng Hà đã xuất sang ta nhiều, mỗi quả to như cái bát ăn cơm, bửa ra, những hạt trắng hồng nằm đều đặn như những hàm răng của các người con gái đẹp, cho vị ngọt dôn dốt chua, giải khát tuyệt hay. Ở đây còn có nhiều vườn tỳ bà.
Cây tỳ bà to như cây hồng xiêm, quả to hơn quả nhót, khi chín thì rực lên một màu hoàng thổ. Bóc nhẹ tay cho hết lớp vỏ mỏng, mỗi quả cho ta một khẩu vàng, ngọt lịm và cũng dôn dốt chua, nhưng chua nhẹ hơn lựu, nóng và khát tan biến. Vì vỏ mỏng, thịt mềm, tỳ bà rất khó mang bằng ôtô.
Đi máy bay về thì mang được, nhưng lại không có sân bay ở Mông Tự, Khai Viễn! Chính vì thế, mà thứ quả này ít sang ta. Năm ngoái, ở METRO Hà Nội có bán, nhưng đắt: 30 ngàn đồng, được có 10 quả! Xen giữa lựu và tỳ bà, còn bao nhiêu là đào. Hoa đào xuân đẹp như má con gái, cứ hây hây.
Dọc đường, ăn cơm ở Mông Tự là ngon nhất. Nhà hàng nằm giữa đồng lựu, khuôn viên trồng nhiều tỳ bà.
Qua huyện nho Di Lặc, là sang huyện Thạch Lâm - "Thiên nam đệ nhất kỳ quan". Thạch Lâm là khu rừng đá tự nhiên tại huyện tự trị dân tộc Di, còn cách Côn Minh chừng 80 cây số. Diện tích rừng đá cỡ 12 cây số vuông. Khu đáng xem nhất là Đại Thạch Lâm, rộng chừng 4 cây số vuông, với 400 ngã tư và hơn 200 điểm phong cảnh.
Năm 2004, Thạch Lâm được UNESCO công nhận là "Công viên địa chất thế giới" (giống Đồng Văn của ta). Từ năm 1984, đã được Chính phủ Trung Hoa phê là "Khu thắng cảnh trọng điểm quốc gia". Chỉ có điều, người Trung Hoa đã khéo léo biến nó, thành vườn cây - hoa - cỏ - đá; là hồ cho có sơn có thuỷ; là lầu tạ để có chỗ "nghênh phong" và tâm sự; là rừng cây trên đá - bên đá, không thành rừng để che lấp cảnh quan nhưng đủ để đá không cô đơn - cô độc - trơ trọi - mồ côi.
Nhìn vào chân đá thấy hoa cỏ li ti; nhìn lên đỉnh đá, thấy vòm đại thụ, thấy tùng, thông che bớt thanh thiên; nhìn ven hồ, thấy đào hồng trúc xanh, mận trắng kỳ ảo như tiên cảnh. Những cô hướng dẫn viên du lịch trẻ đẹp, mang trang phục rực rỡ của người Di, đi lại như giữa chốn Bồng Lai. Xe ôtô điện đưa khách, im không tiếng động… Màu đá Thạch Lâm thay đổi trong ngày, theo thời tiết, ngỡ như các loại đá trên đời về đây họp mặt.
Qua Thạch Lâm là đến huyện Di Lương. Di Lương nổi tiếng với vịt quay của mình. Vịt quay Bắc Kinh đã rất nổi tiếng, nhưng là quay trên lửa. Người Di Lương quay vịt bằng than lá thông. Vịt của họ nuôi trong hồ, hồ lại nằm trong động đá. Có nước, có tôm cá.
Vịt Di Lương béo mà không hôi, quay xong, thịt vàng sẫm màu mật ong, xương giòn như xương chim, chả bỏ đi đâu miếng nào. Ngồi ghế thấp, ăn bàn thấp, sàn nhà trải dày lá thông héo, đi lại không một tiếng động, không khí thơm phức mùi tùng bách, chén rượu bồ đào cầm tay và thịt quay trên đĩa, tưởng cũng đã bõ cho "đường xa dặm thẳm".
Vịt quay Di Lương nổi tiếng như thế nên mới có câu chuyện thế này: Xa nước lâu ngày, một ông Hoa kiều về thăm quê Vân Nam. Món đầu tiên ông gọi trong một nhà hàng, chính là món vịt quay. Nhà hàng đem con vịt quay lên, ông ngửi qua cái phao câu và lắc đầu: "Đây là vịt quay Quý Châu!". Con thứ hai, ông lại lắc đầu: "Đây là vịt quay Tứ Xuyên!".
Con thứ ba, ông phán: "Đây là vịt quay Bắc Kinh!". Con thứ năm: "Đây là vịt quay Nam Ninh!". Nhà hàng tá hoả, phải đem lên một con vịt quay cuối cùng. Ông lại ngửi phao câu và reo to: "Có thế chứ, đây mới là vịt quay Di Lương!".
Một cô chạy bàn phục quá, lại mừng quá, khóc và thưa rằng: "Ông ơi! Cháu bị ly tán gia đình từ nhỏ, bây giờ không biết quê mình ở đâu. Xin ông làm ơn tìm quê giúp cháu!". Và, cô gái đã được toại nguyện. Chuyện này, không phải tôi bịa. Đây là chuyện trên Đài Truyền hình Vân Nam hẳn hoi…