Ví dụ cụ thể nhất là vụ PGS - TS Phan Thị Cúc và nhóm cộng sự thuộc Khoa Tài chính Ngân hàng - Đại học Công nghiệp TP HCM bị tố là "đạo" lại giáo trình của GS - TS Trần Ngọc Thơ (Trưởng khoa Tài chính doanh nghiệp Trường Đại học Kinh tế TP HCM) và cộng sự.
Ngay sau khi PGS - TS Phan Thị Cúc phải chịu hình thức kỷ luật nghiêm khắc về việc làm khuất tất của mình thì lại có lời cáo phát (đã được in trên nhiều tờ báo) là GS -TS Trần Ngọc Thơ và cộng sự cũng "luộc lại gần như nguyên vẹn" một giáo trình của GS Jeff Madura ở Trường Đại học Florida Atlantic, Mỹ.
Cách đây ít tuần, nhân đọc một bài viết của nhà văn, dịch giả Ngô Tự Lập phân tích những yếu tố liên quan đến hiện tượng đạo văn, tác giả Nguyễn Tôn Hiệt đã đặt câu hỏi: "Phải khen là Ngô Tự Lập là một lý thuyết gia sành sõi về tâm lý cũng như thao tác đạo văn ở những kẻ khác. Thế còn chính anh thì sao?".
Và, trong bài viết có tên gọi "Đạo văn: lý thuyết và thực hành của Ngô Tự Lập" (được tải trên một số trang web), tác giả Nguyễn Tôn Hiệt đã tìm cách chứng minh rằng, ở bài viết "Cha đẻ của văn học viễn tưởng Việt Nam" cũng như bài viết "Nguyễn Ái Quốc và văn học Pháp ngữ", Ngô Tự Lập "gần như dịch lại hoặc tóm lược lại nhiều đoạn trong bài của Hayes Edwards, lấy cả những đoạn truyện mà Hayes Edwards đã dịch sang tiếng Anh và đưa ra làm ví dụ. Ở những đoạn đó, Ngô Tự Lập viết như thể chính mình là người phát hiện, và tuyệt đối không hề nhắc đến tên Hayes Edwards".
Chưa dừng ở đó, cách đây chừng hơn tuần, một số trang web đã cho đăng tải bài viết "Phản biện sự phản biện về sư phụ Hoàng Ngọc Hiến" của ông Thái Doãn Hiểu, trong đó, ông Hiểu có kêu rằng, các cuốn "Giai thoại nhà văn Việt Nam hiện đại", "Giai thoại kẻ sĩ Việt Nam" và "Giai thoại nhà văn thế giới" do ông khảo cứu đã "bị biến thành miếng mồi ngon cho hàng chục "học giả" rỉa rói chôm chỉa biến thành sách riêng lớn nhỏ khác nhau. Trắng trợn nhất có một ông tên là Hoàng Hữu Đảng (chắc là mượn danh) dùng phương pháp cắt dán gần 400 trang thành quyển Giai thoại văn học dùng trong nhà trường...".
Về những ý kiến của ông Nguyễn Tôn Hiệt đối với nhà văn Ngô Tự Lập, tôi xin phép không mạn bình vì nhận thấy, đây là vụ việc khá phức tạp. Bản thân nhà văn Ngô Tự Lập cũng đã và đang tiếp tục có những ý kiến phản hồi. Về vụ việc liên quan đến GS - TS Trần Ngọc Thơ, vì không có văn bản trong tay nên tôi cũng không dám có ý kiến mang tính khẳng định.
Riêng việc cáo giác của ông Thái Doãn Hiểu về chuyện ông bị đạo văn, tôi không rõ cuốn "Giai thoại văn học" mà ông nhắc tới tên người "chôm chỉa" là Hoàng Hữu Đảng có phải chính là ông Nguyễn Hữu Đảng (mà ông Hiểu ghi nhầm) không? Nếu đúng hai người này là một thì ở đây, tôi có thể cung cấp thông tin thêm với ông Hiểu là: Trước đây, trong bài viết "Làng xuất bản và hội chứng biến của riêng thành của chung" in trên Báo Công an nhân dân, chúng tôi đã phê phán việc đạo văn của ông Hoàng Hữu Đảng.
Tuy nhiên, theo tôi được biết, ông Nguyễn Hữu Đảng thuổng là thuổng từ nhiều nguồn tài liệu (trong đó có khá nhiều bài viết đã in sách của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi) chứ không phải thuổng tất cả từ cuốn sách của ông Thái Doãn Hiểu. Từ ý kiến của ông Hiểu, buộc chúng tôi phải có suy nghĩ: Không biết trong cuốn sách mà ông Hiểu "khảo cứu" đó, số bài ông "soạn" lại từ các nguồn khác có nhiều không? Và việc "soạn" lại đó khác với việc ông gọi là "rỉa rói, chôm chỉa" kia bao xa?
Nói vậy để thấy, giữa những người viết với nhau, quan điểm thực chất thế nào là đạo văn cũng không đơn giản. Bởi, muốn cắt nghĩa được hiện tượng trên, chúng ta cần thống nhất với nhau quan điểm: Đạo văn khác với việc "biên soạn", việc "tổng hợp nâng cao", khác với "sự hưởng có tính sáng tạo" như thế nào?
Sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu từng nói "ăn cắp được văn người đâu phải dễ". Đại thể, trong một lần trò chuyện với anh em viết văn trẻ, ông có tâm sự rằng thế hệ của ông có học, có "thuổng" của thơ Pháp ít nhiều và dẫn chứng mà ông thường đưa ra là việc bài thơ "Yêu" của ông (Yêu là chết ở trong lòng một ít/ Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu? Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu/ Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết...), chỉ vẻn vẹn 13 câu mà ông chịu ảnh hưởng của những...ba nhà thơ Pháp, cả về ý tưởng lẫn cấu trúc nhạc điệu.
Tuy nhiên, ảnh hưởng thì ảnh hưởng vậy, cái chính là các ông đã biết "phi tang". Nghĩa là từ một sự "gợi ý", các ông có thể nâng cấp, biến hóa thành những sản phẩm đặc biệt, mang hương vị của tâm hồn mình, cốt cách dân tộc mình. Vấn đề là "ảnh hưởng" bao nhiêu thì vừa, và phải chuẩn bị những gì để không bị "đồng hóa", bị "nô dịch".
Chẳng hạn như ở trường hợp bài "Yêu" của Xuân Diệu, mặc dù so sánh về ý, nó có sự vay mượn khá rõ của thơ Pháp, nhưng về tổng thể mà nói, bài thơ vẫn cho thấy ở Xuân Diệu một kỳ công trong sáng tạo (chính bởi lẽ đó mà nó có vị trí riêng trong làng thơ Việt Nam và được nhiều bạn trẻ chép trong sổ tay). Như vậy, trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, cần phải phân định minh bạch ranh giới giữa sự ảnh hưởng có tính sáng tạo (cũng như sự ngẫu nhiên trùng hợp ý tưởng) với hành vi đạo văn để có một cách hành xử thỏa đáng.
Thật ra, trong đời sống văn học, việc "đạo văn" xảy ra là một hiện tượng rất đáng ngạc nhiên. Ngạc nhiên vì một lẽ giản đơn: Văn chương khi đã hay thì thông thường phải được nhiều người biết, mà tìm cách lấy cái "nhiều người biết", biến cái "nhiều người biết" ấy thành của mình thì khác nào "lạy ông tôi ở bụi này", chẳng hóa không dưng chuốc lấy tiếng nhơ nhuốc cho mình hay sao?
Điều này lý giải tại sao trước đây, khi báo Người Hà Nội mở một cuộc tranh luận xem có phải nhà thơ Bế Kiến Quốc đã đạo thơ của thi hào Đức thế kỷ XIX Henrích Hainơ không, tôi đã xem như người ta nhầm lẫn gì đó. Không phải chỉ vì tôi tin vào tư cách cũng như năng lực thi ca của nhà thơ Bế Kiến Quốc, mà cái chính là tôi tin ông không phải là người...tâm thần, có thể làm cái điều xuẩn ngốc, trước sau cũng bị bại lộ này. Quả nhiên, sau này sự thật đã được chứng minh đúng như nhận định của tôi.
Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là các vụ đạo văn không từng và không còn xảy ra, trong đó làm tốn không ít giấy bút của công luận chính là hiện tượng "sưu tầm", "tuyển chọn". Chỉ cần đề những chữ này ngoài bìa sách, người ta có thể đưa rất nhiều bài viết của các tác giả khác vào ruột sách mà không cần đề tên tác giả, và đương nhiên, họ hưởng trọn phần nhuận bút. Cũng tốn giấy mực không kém là hiện tượng được xem là vô tình trùng lặp...
Chúng ta đều biết, không ai có thể vỗ ngực cho rằng tất cả những điều mình viết ra là hoàn toàn mới mẻ, là chưa ai đề cập tới. La Bruyère, nhà văn Pháp thế kỷ XVII từng viết: "Tất cả đã nói hết rồi, và chúng ta đến quá muộn. Từ bốn nghìn năm nay đã có những con người, và họ suy nghĩ". Dẫn ra vậy để thấy việc một nhà văn, nhà thơ nào đó có những ý tưởng giống nhau cũng là điều có thể xảy ra.
Trước đây, đọc thơ Tế Hanh, nhiều bạn đọc rất thích thú bài thơ "Sóng" với mấy câu: "Biển một bên em một bên/ Ta đi trên bãi cát êm đềm/ Thân buông theo gió, hồn theo mộng/ Sóng biển vào anh với sóng em". Thế rồi họ gặp những ý tưởng tương tự trong thơ Trần Đăng Khoa khi anh viết: "Biển một bên và em một bên/… Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía".
Khi trao đổi với tôi, nhà thơ Trần Đăng Khoa thổ lộ rằng: Khi viết những câu này, anh chưa hề biết mấy câu thơ trên của nhà thơ Tế Hanh, nhưng vì bài thơ của Tế Hanh ra đời trước, nên đúng tinh thần "kính lão đắc thọ", khi sách tái bản, anh cho in nghiêng câu thơ trên và ghi chú ở dưới: "Câu thơ Tế Hanh". Tôi cho rằng đây là một thái độ sòng phẳng, rất đáng trân trọng. Cũng nói luôn là cách xử sự thế này vẫn còn là hơi hiếm trong làng văn Việt
Từ câu chuyện trên, bỗng chốc tôi nhớ tới một trường hợp khác: Đọc thơ Nguyên Sa, tôi rất thích bài "áo lụa Hà Đông" với những: "Anh vẫn biết em ngồi đây, tóc ngắn/ Mà mùa thu dài lắm ở xung quanh". Sau này, tôi cũng đọc được một ý tương tự trong bài thơ của một nhà thơ trẻ: "Em tuổi thơ tóc ngắn, gió may dài". Cả hai câu nằm trong cấu tứ chung của bài, đều hay. Vậy có thể khẳng định tác giả trẻ ảnh hưởng thơ Nguyên Sa hay là vô tình ý tưởng lớn gặp nhau. Quả là không dễ dàng.
Các nhà văn có nhiều ý kiến để phân định việc này. Có người cho rằng: Đạo văn phải là việc lấy nguyên cả đoạn. ít ra là từ 1, 2 câu trở lên thì mới có cơ sở để suy xét. Có người lại cho rằng, trong truyện ngắn, tiểu thuyết, cấu tứ là rất quan trọng. Người ta không đạo đoạn văn mà chỉ thuổng mô típ truyện, cấu tứ truyện thì sao? Với thơ, có người cho rằng ý tưởng là quan trọng, nhưng cũng có ý kiến cho rằng cấu trúc giai điệu cũng rất quan trọng.
Cách đây mấy năm, khi dư luận ồn lên nghi vấn một ông nhà thơ người Việt đạo thơ của một thi sĩ nước ngoài (hai bài thơ rất giống nhau về cấu trúc giai điệu), song theo các nhà chuyên môn đánh giá, nếu suy xét về nội dung tư tưởng thì bài thơ của ông tác giả người Việt hay hơn nhiều so với bài thơ của ông tác giả nước ngoài nọ. Vậy trong vấn đề này, giữa "công" và "tội" (nếu đúng thực là ông "đạo" văn) ta xét thế nào?
Nói chung, xung quanh vấn đề đạo văn, ngoài những sự việc hai năm rõ mười, đạo một cách trắng trợn, rất đáng lên án, ta cũng cần cẩn trọng suy xét trước một số hiện tượng ngấp nghé ranh giới đạo văn và ảnh hưởng? Bởi gương nhãn tiền cho thấy, có những điều chúng ta không thể nói "mạnh" nếu xét ở cả hai khía cạnh: tình và lý.
Lại một lần nữa, trách nhiệm đặt lên vai những người "gác cổng" ở các cơ quan báo chí, truyền thông. Bởi hơn ai hết, họ cần phải trang bị cho mình một vốn văn hóa sâu rộng, một vốn liếng sách vở phong phú. Có như vậy may ra mới hạn chế được những trường hợp "cầm nhầm" trong sáng tạo, trả lại cho bầu không khí văn chương sự trong lành cần thiết.
Bên cạnh đó, để cho khoa học, khi công bố các tác phẩm, công trình, bài viết của mình, các tác giả cũng nên ghi dấu thời điểm chúng ra đời, đặc biệt là thời điểm (và nơi) chúng được in ấn, xuất bản.
Về lý thuyết mà nói, một tác phẩm ra đời sau, nếu có nhiều điểm trùng lặp với một tác phẩm được công bố trước đó, thì tác phẩm ấy phải được suy xét đến khả năng: Hoặc tác giả có sự trùng hợp ngẫu nhiên về mặt tư duy, hoặc là có hành vi đạo văn...