Sinh thời, Esenin luôn chênh vênh giữa hai trạng thái: ham sống tới tột cùng và chán sống cũng tới tột cùng. Nhà thơ được ví như cây đại phong cầm của nước Nga, làm rung lên những giai điệu thuần khiết nhất của dân tộc Nga La Tư vĩ đại, đã phải mang trong mình một tâm hồn luôn luôn náo động, vì quá ham sự thanh khiết nên hay bị vướng vào vòng tục lụy. Giữa những ngày thanh xuân nhất, Esenin đã biết cảm nhận nỗi niềm của “những gì đến nở tung rồi tàn úa trong đời”. Và anh đã tạo được cho mình một thái độ thâm trầm của những triết gia cao niên:
Tôi không tiếc, tôi không than khóc,
Mọi sự đều sương khói dần phai.
Đã chót nhuốm sắc vàng tang tóc,
Chẳng bao giờ tôi trẻ nữa lần hai.
Con tim đã lỡ làng thấm lạnh,
Giờ sẽ thôi run rẩy, rộn ràng.
Và vương quốc vải màu dương liễu
Hết rủ ta nhảy nhót chân trần.
Hồn lãng tử, người càng ngày càng bớt
Thổi cháy bùng lời lẽ trên môi.
Ôi sức trẻ của ta đã mất,
Ôi tinh anh con mắt khát tung giời!
Giờ tôi kiệm cả niềm ao ước,
Đời đấy ư? Hay mộng mị, em về?
Ngỡ tôi giữa sáng xuân náo nức
Trên ngựa hồng theo gió bay đi.
Ta tất cả, tất cả ta cát bụi,
Những cây phong vàng lá tan rời...
Hãy vĩnh viễn thiêng liêng rạng rỡ
Những gì đến nở tung rồi tàn úa trong đời!
Những dòng thơ trên được viết năm 1921, khi Esenin mới 26 tuổi. Trong những hoàn cảnh xã hội nào đó, sống đôi khi là làm mình bớt “hay” đi để đáp ứng những nhu cầu nào đó của thời cuộc. Nhạy cảm như Esenin không thể không sớm nhận ra điều này. Và nhận ra rồi thì không thể không đau đớn. Ngày 9-10-1923, sáu ngày sau lễ sinh nhật lần thứ 28, Esenin viết:
Em yêu hỡi, nào hãy cùng kề cận,
Nào hãy cùng chăm chắm đắm nhìn nhau.
Anh muốn dưới ánh mắt em hiền dịu
Nghe tình dâng trong tiếng gió khuya gào.
Vàng chói lọi của mùa thu đang tới,
Mái tóc em sáng láng giữa đêm này,
Tất cả đều đến đây để cứu
Kẻ phiêu du lãng bạt bao ngày.
Anh đã bỏ quê từ lâu lắm,
Bỏ cánh đồng hoa nở khắp nơi,
Trong danh tiếng thị thành cay đắng,
Anh đã để đời hoài phí lỡ làng trôi.
Anh hy vọng tim dần dà sẽ ít
Nhớ mùa hè và mảnh vườn xưa,
Nơi giữa tiếng đồng ca của ếch
Anh đã nuôi mình lớn hóa nhà thơ.
Giờ ở đó cũng là thu, em ạ...
Cạnh cửa phòng cây cối đứng không yên,
Cứ mãi thả bóng cành, bóng lá
Vào tìm những người chúng còn nhớ chưa quên.
Nhưng từ lâu họ đã mất trên đời,
Ngoài nghĩa địa hoang vu trăng buồn bã
Soi ánh sáng lên những cây thánh giá
Chúng đang đợi mình tới đó em ơi!
Chúng đợi mình khi nợ đời đã trả,
Tới cùng bụi cây này yên giấc ngàn năm,
Và những con đường ngoằn ngoèo kia sẽ chỉ
Vui cùng người còn sống ở trần gian.
Vậy em hỡi hãy mau cùng kề cận
Hãy mau cùng chăm chắm đắm nhìn nhau.
Anh muốn dưới ánh mắt em hiền dịu
Nghe tình dâng trong tiếng gió khuya gào...
Tất cả vẫn là một nỗi niềm không thỏa trong kiếp nhân sinh, nơi ẩn náu chưa chắc đã là đích thực của các nhà thơ chân chính. Không ngẫu nhiên đâu mà trong một bài thơ viết tặng em gái Sura, Esenin đã thú nhận: “Cõi trần thế anh chỉ là khách trọ”... Sống gửi, thác về, người Việt ta từ nghìn xưa cũng đã nghĩ như vậy rồi. Nhưng không phải vì thế mà không tha thiết với cõi “tạm thương” này. Một ngày còn thở là một ngày còn thơ và gắn bó với mảnh đất quê hương:
Cõi trần thế anh chỉ là khách trọ,
Hãy vẫy anh vui vẻ nghe em.
Trăng thu cũng tung chùm tia sáng
Dịu dàng lặng lẽ thế vào đêm.
Lần đầu tiên trăng làm anh ấm,
Lần đầu tiên hơi lạnh sưởi lòng anh,
Anh lại sống, lại thêm hy vọng
Vào tình yêu thực đã không thành.
Cánh đồng quê giúp anh được thế,
Cánh đồng quê cát trắng mặn mòi.
Ơi trinh tiết một thời ai mất!
Ơi lòng ai thân thuộc nỗi hoài!
Phải thế chăng vĩnh viễn anh chẳng giấu
Chuyện anh yêu không đơn bạn lẻ bầy:
Anh và em, ta cùng chung tình cảm
Thật nồng nàn với mảnh đất này đây.
Với Esenin, sống là biết chấp nhận những gì không thể thay đổi được. Và cũng phải biết xót xa cho không chỉ riêng mình:
Tôi buồn rầu biết mấy nhìn em,
Đau đớn quá, đáng thương xót quá.
Biết chăng, chỉ sắc vàng lá liễu
Tháng Chín này rớt lại cùng ta.
Môi kẻ khác đã làm tan tác
Hơi ấm em, run rẩy xác em rồi.
Như thể những giọt mưa tí tách
Rơi từ hồn đã mấy phần chai.
Thì đành thế! Tôi nào kinh hãi,
Ngay sự này cũng khiến tôi vui.
Vì chẳng thể còn gì khác nữa
Ngoài không gian vàng lạnh u hoài.
Chính thân tôi, tôi còn chẳng giữ
Cho đời tươi, cho những nụ cười.
Mới chỉ vượt dăm ba lối ngõ
Đã phạm bao lầm lỗi kinh người.
Sống ngộ quá, dở dang ngộ quá,
Đã thế và mãi thế mà thôi.
Như nghĩa địa, khu vườn xơ xác
Những thân cây trơ tựa xương đời.
Rồi ta cũng hết thời xuân sắc,
Hết thời âm vang như khách của khu vườn.
Bởi giữa đông chẳng thể nào hoa nở,
Đừng hoài hơi vì chúng, ta buồn...
Không biết những người khác thế nào, riêng cá nhân tôi luôn thấy Esenin gần gụi với mình như anh em song sinh, như bạn bè “đồng sàng, đồng mộng”. Nhất là khi tôi còn trẻ như anh. Sống theo đúng nghĩa của từ này cũng có thể khiến người ta phạm những sai lầm nào đó. Nhưng không bao giờ được trở nên tàn ác. Và một khi không sống được như thế, thì phải tìm thấy trong mình đủ sức viết những câu trăn trối như Esenin đã làm trong ngày 27/12/1925:
Giã biệt nhau, bạn nhé!
Tôi giữ bạn trong lòng.
Buổi chia li tiền định,
Chắc hứa lúc tương phùng.
Giã biệt, không phải nói,
Không bắt tay, không buồn.
Đời này, chết chẳng mới,
Nhưng sống - mới gì hơn!
Chết cũng không mới hơn sống, Vladimir Mayakovsky đã họa lại Esenin như vậy. Nhưng không sống thì không thể chết. Không sống tử tế thì chết càng không thể nào nhắm mắt được. Người thường đã thế, huống hồ là các nhà thơ! Nhà thơ, đó không chỉ là sáng tạo nghệ thuật mà còn là một thái độ sống. Nhà thơ đích thực không thể không tử tế, ngay cả khi anh có lỡ phạm lầm lỗi nào đó. Esenin đã phải tử tế lắm thì khi anh qua đời, vũ nữ lừng danh Isedora Duncan mới lấy máu của tim mình để viết lời phân ưu như sau gửi lên một số tờ báo Pháp (nàng từng là vợ cũ của nhà thơ, từng khốn đốn lang bang vì những hoạn nạn của đời anh, tâm tính anh): “Tin tức về cái chết bi thảm của Esenin đã khiến tôi vô cùng đau đớn. Anh ấy trẻ, đẹp, thiên tài. Không thỏa mãn với tất cả những phúc lộc đó, tinh thần anh ấy lại hướng tới cõi hư vô và anh ấy muốn những tộc người thiên cổ phải quỳ gối trước mình. Anh ấy đã tàn phá tấm thân thanh tân tuyệt vời của mình, nhưng tinh thần anh ấy sẽ sống mãi trong lòng nhân dân Nga và tất cả những ai yêu quý các nhà thơ... Tôi khóc thương anh ấy với nỗi đớn đau và tuyệt vọng. Isedora-Duncan”...
Không ai nỡ lòng chối bỏ một nhà thơ tử tế, bởi những người phụ nữ chân chính đều hiểu rằng, khi anh làm ta khổ một thì chính anh cảm thấy khổ mười!...
* Các bài thơ của Esenin đều do nhà thơ Hồng Thanh Quang dịch từ nguyên bản tiếng Nga