Chuyện kỳ bí về các mảnh thi thể nạn nhân ở Hiroshima

Làm thế nào và tại sao những phần cơ thể của các nạn nhân thiệt mạng do bom nguyên tử lại nằm ở nước ngoài và phải mất hàng chục năm sau đó mới được đưa về quê nhà Hiroshima. Dưới đây là một trong những tư liệu ly kỳ nhất chưa từng được công bố về thảm họa bom nguyên tử ở Hiroshima.

Trong số các vật phẩm đa dạng trong bộ sưu tập của Viện nghiên cứu y học và sinh học bức xạ thuộc Đại học Hiroshima có 2 lọ mẫu bằng thủy tinh, mỗi lọ cao độ 15cm và chứa một chất dịch trong suốt, bên trong có một cái đốm màu nâu mà nhìn sơ sơ có thể bị nhầm với cái túi tạp hóa nhàu nhĩ. Chúng là tất cả những gì còn lại của nữ diễn viên sân khấu Midori Naka. Naka, người nổi tiếng bởi phong cách kịch nghệ shingeki đã bị quả bom "Chú Bé" phát nổ gần nơi cô sinh sống. Năm đó nữ nghệ sĩ mới tròn 36 xuân xanh.

Naka không chết ngay khi quả bom phát nổ mà rời xa cõi trần 18 ngày sau đó. Midori Naka là người đầu tiên trên thế giới bị chết trong cái căn nguyên được gọi là “ngộ độc bức xạ”. Có một sự thực rõ ràng là hài cốt của Naka sẽ nằm ở Hiroshima ngay bên trong một viện nghiên cứu được tạo ra để tìm hiểu và trị về các căn bệnh liên quan đến bức xạ, nhưng 2 cái lọ thủy tinh đã tìm đến nơi đó trong một lộ trình hết sức kỳ lạ sau hàng thập niên lênh đênh ở nước ngoài cùng với hàng ngàn cơ phận người khác, những mẫu ướt cùng các vật liệu pháp y của các nạn nhân chết vì bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki. 

Phẫu thuật pháp y nạn nhân bom nguyên tử

Đầu hè năm 1945, lúc đến thành phố Hiroshima cùng với đoàn kịch Sakura, Midori Naka là một ngôi sao triển vọng, thành công và đầy quyến rũ. Ông Seiji Ikeda, nam diễn viên, người từng hoạt động chung với Naka, nhớ lại: “Chị ấy mê sân khấu lắm. Không những xinh đẹp, chị ấy còn có trái tim rộng mở. Naka như người chị cả với những người đồng nghiệp quanh mình”. 

Naka cùng các đồng nghiệp thường xuyên khích lệ tinh thần nghệ thuật khi hay tổ chức các buổi diễn cho cánh công nhân làm trong các nhà máy sản xuất đạn dược. Và lúi húi trong nhà bếp của đoàn kịch vào cái buổi sáng của ngày 6 tháng 8 năm 1945 khi vụ nổ bom hạt nhân thứ hai trong lịch sử đã diễn ra chỉ cách đó không đầy 1 dặm (vụ nổ đầu tiên là thử nghiệm Trinity ở New Mexico vào ngày 16 tháng 7 năm 1945).

Chân dung nghệ sĩ sân khấu Midori Naka thuở sinh thời. Ảnh nguồn: Wikipedia.

Chân dung nghệ sĩ sân khấu Midori Naka thuở sinh thời. Ảnh nguồn: Wikipedia.

Naka không bị chết ngay từ vụ nổ ban đầu, tuy nhiên sóng xung kích đã phá hủy tòa nhà (của đoàn kịch Sakura), vài nghệ sĩ trong đoàn kịch đã chết. Bò ra từ đống đổ nát, Naka tìm cách đi khỏi Hiroshima ngay buổi sáng của ngày 10 tháng 8 năm 1945 trên chuyến tàu hỏa đầu tiên đến Tokyo. 

Ngày 16 tháng 8, Naka nhập viện Đại học Tokyo và tình trạng sức khỏe diễn tiến xấu đi. Cô bắt đầu rụng tóc, các vết lở loét bắt đầu xuất hiện khắp cơ thể. Lượng bạch cầu giảm mạnh dù được truyền máu nhiều đợt. Naka ra đi sau buổi trưa ngày 24 tháng 8. Một ngày sau khi nghệ sĩ Midori Naka nhập viện, bác sĩ Koyishi Yamashina thuộc Cục y tế của quân đội Thiên hoàng Nhật Bản cũng từ Hiroshima đến Tokyo. Ông được phái đến Hiroshima từ ngày 8 tháng 8 tức chỉ 2 ngày sau vụ nổ, như là một phần của nhóm khảo sát gồm 9 thành viên.

Là một trong những chuyên gia y tế đầu tiên bắt tay vào thảm họa, bác sĩ Koyishi Yamashina đã thực hiện ca phẫu thuật pháp y đầu tiên trên cơ thể nạn nhân bom nguyên tử vào ngày 10 tháng 8, đó là một cậu bé đã thiệt mạng khi bom phát nổ. 

Tiếp đó bác sĩ Yamashina chủ yếu làm việc trên đảo Ninoshima ở gần đó, nơi nhiều người sống sót được chuyển đến, và quay lại Tokyo vào ngày 17 tháng 8 sau khi đã thực hiện những ca phẫu thuật pháp y. Trong những ngày đầu khốn khổ đó, bác sĩ Yamashina cùng các thầy thuốc khác đã tiến hành một số ca phẫu thuật với những nạn nhân đầu tiên bao gồm bệnh nhân 34 tuổi Nobuki Uchiyama. Báo cáo pháp y của bác sĩ Yamashina mô tả Uchiyama là “người cao ráo, xương đậm, thể trạng dinh dưỡng tốt” khi qua đời vào lúc tảng sáng ngày 13 tháng 8.

Nạn nhân Uchiyama bị nạn chỉ cách chấn tâm (khu vực số 0 trên bộ) khi quả bom phát nổ ở độ cao 579m. Vùng thái dương phải của nạn nhân bị dập nát, bị thương ở chân phải, vai và cánh tay bị cháy sém. Sau cái chết của Uchiyama, bác sĩ Yamashina đã tiến hành lấy đi các cơ phận nội tạng của nạn nhân bao gồm lá lách (130 gram), quả tim (290 gram) và thận phải (140 gram). 

Trong suốt 2 tháng 8 và 9, các nhà Bệnh học Nhật Bản đã tiến hành hàng loạt ca giải phẫu pháp y khi số lượng nạn nhân không ngừng tăng. Họ mổ xẻ các nội tạng, thực hiện lấy các mô tế bào và dần dần hình thành một thư viện bệnh học mới bao gồm “hồ sơ ướt” (các mẫu nội tạng được bảo quản). Sau rốt công việc của các bác sĩ là cố gắng tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với các đồng bào mình để có thể cứu sống những người khác.

Nhưng rất nhiều lần các bác sĩ lâm vào thế kẹt khi lúng túng trước các trường hợp lạ lẫm hoàn toàn không có trong sách vở y khoa, một thảm họa nhân tạo làm biến dạng cơ thể người theo nhiều cách chưa từng thấy. (Có thể kể đến nhà bác học Marie Curie đã chết do phơi nhiễm bức xạ, nhưng không phải là kiểu ngộ độc bức xạ cấp tính từ một liều lượng lớn). 

Người Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, tức chỉ 6 ngày sau khi xảy ra vụ thả bom ở thành phố Nagasaki, và thuật ngữ “đầu hàng” chỉ chính thức đặt bút ký vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Cuối tháng 9 đó, các nhóm chuyên gia y tế Mỹ bắt đầu đến Nhật. Vào thời điểm đó, các nhà Bệnh học Nhật Bản đã thu thập một kho lưu trữ lớn các cơ quan nội tạng mà họ hy vọng sẽ trị khỏi cho nhiều bệnh nhân bằng sự chăm sóc của họ.

Những toan tính của người Mỹ

Khi đội khảo sát Nhật lần đầu tiên đến Hiroshima, các nhóm y tế Mỹ đã làm việc cùng các đồng nghiệp Nhật. Nhưng đến tháng 11 thì sứ mạng đột ngột thay đổi. Các viên chức quân sự Mỹ đã tự thu thập các mẫu nội tạng và đưa chúng về Mỹ. Các phần tử thi từ ít nhất 218 ca phẫu thuật cùng với 1.400 mẫu khác đã được chuyển đến Washington, D.C., nhằm phục vụ cho nghiên cứu chuyên sâu. 

Viện bệnh học lực lượng vũ trang Mỹ (AFIP), nơi chuyên thu thập và nghiên cứu các cơ quan nội tạng nạn nhân bom nguyên tử ở Nhật Bản. Ảnh nguồn: Public Domain Files.

Viện bệnh học lực lượng vũ trang Mỹ (AFIP), nơi chuyên thu thập và nghiên cứu các cơ quan nội tạng nạn nhân bom nguyên tử ở Nhật Bản. Ảnh nguồn: Public Domain Files.

Khỏi cần nói cũng biết các nhà khoa học Nhật Bản đã kinh ngạc đến thế nào. Nhà nghiên cứu Bệnh học người Nhật Bản, Chuta Tamagawa của Đại học Hiroshima, từng rất ca thán việc chuyển giao này, sau này ông giải thích với tờ Chugoku Shimbun rằng: “Xác chết và tài liệu pháp y không phải là chiến lợi phẩm của chiến tranh”. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản phàn nàn rằng rất nhiều tài liệu pháp y đã vĩnh viễn không được người Mỹ trả lại.

Những phần thi thể được lấy từ Hiroshima và Nagasaki đã tạo ra một kho lưu trữ quan trọng nhằm hiểu thêm về tác động của bức xạ, và ngay từ phút đầu chính phủ Mỹ đã tỏ ra rất quan tâm tới bộ sưu tập mới này. 

Ấn phẩm đăng năm 1946 trên tờ Dịch vụ tin tức quốc tế (INS) khi thảo luận về hài cốt của nghệ sĩ Midori Naka đã tiết lộ rằng các nhà khoa học từng quả quyết có một loại cấu trúc của nạn nhân ngay tại thời điểm phơi nhiễm tác động của bức xạ: “Số phận của người Nhật tương quan với loại tòa nhà và địa điểm khi nạn nhân bị thương hoặc tử vong. Kiến thức này rất quan trọng vì nó dẫn đến việc phát triển cấu trúc phòng thủ”. Nhiều đánh giá khoa học về bụi và ngộ độc bức xạ đã dựa đáng kể vào “kho lưu trữ ướt”. Nhưng để những tử thi này có giá trị khoa học thì các cơ quan nội tạng phải được nguyên tử hóa và mổ xẻ, cắt thành nhiều lát thật mỏng, giữ ổn định trong sáp và formaldehyde, bảo tồn hoặc cắt xén.

Các cơ phận người được đưa tới Mỹ đã mất tất cả những mối liên hệ cá nhân và đặc tính của chúng. Bấy giờ chúng không còn đơn thuần là xác người nữa mà đã trở thành những phần nhỏ hơn cho một kiến thức mới mẻ về cơ thể. 

Trong khi phần lớn “kho lưu trữ ướt” buổi ban đầu là do sự thu thập của các nhà khoa học Nhật Bản trong 2 kỳ hè, thu năm 1945, thì Ủy ban thương vong bom nguyên tử Mỹ (ABCC) đã tiếp tục thu thập mẫu suốt nhiều năm sau đó nhằm mục tiêu thành lập một bệnh xá ở Hiroshima để điều trị cho các nạn nhân bức xạ cũng như thu thập tài liệu khám nghiệm tử thi từ những người chết. Trong khi có những gia đình Nhật Bản sốt sắng với dự định của người Mỹ thì cũng có một bộ phận xem ABCC là “tổ chức cướp xác”. Tuần báo Asahi năm 1966 ví von ABCC là “đám kền kền” hay “mạng lưới tìm xác thối”, và hé lộ những người cung cấp tin cho ABCC sẽ được trả công 60 Yên / xác. 

Trong cuốn sách công bố năm 1958 mang tựa đề “Những đứa trẻ từ tàn tro”, nhà báo người Áo, Robert Jungk, đã viết: “Ở ABCC có một nơi gọi là “phòng chẩn đoán” nơi thực hiện “các ca thú vị”: chủ yếu dùng cho các xác chết vì bệnh bức xạ hoặc các bệnh nan y liên quan”. 

Theo thời gian, “phòng chẩn đoán” đã cung cấp cho ABCC nhiều tư liệu nghiên cứu lâm sàng, song tiếng của nó lan xa đến nỗi Kiyoshi Kikkawa, một trong những sáng lập viên của Hiệp hội nạn nhân nguyên tử (AAV) phải gọi nó là “nhà máy sản xuất xác chết”. Buổi ban đầu khi đưa các cơ phận người sang Mỹ, chúng được giấu rải rác trong các tòa nhà quanh thủ đô Washington D.C, nhưng đến năm 1949 thì mọc lên một cấu trúc khổng lồ có khả năng chống chịu bom nguyên tử mang tên “Viện bệnh học lực lượng vũ trang (AFIP) đi vào hoạt động vào năm 1955.

Tất cả cơ quan nội tạng mang từ Nhật Bản sang Mỹ sẽ được chuyển đến phòng chuẩn bị trong Đơn vị nguyên tử của AFIP. Cứ mỗi bước sẽ có các con số và thẻ nhận dạng được cung cấp nhằm loại bỏ danh tính của các tử thi. Thời gian trôi đi, việc lập danh mục ngày càng trở nên lộn xộn khiến các mẫu vật dần bị mất đi ý nghĩa. Đó cũng là lý do khiến cho ông R. Keith Cannan, giám đốc điều hành của ABCC và đồng thời là chủ tịch của Bộ phận khoa học y tế thuộc Viện hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ (NAS) dần dần tin rằng “lưu trữ ướt” đang mất đi tính hữu dụng khoa học.

Hành trình hồi hương đất mẹ

Chính trong bối cảnh lộn xộn mẫu vật ở ABCC mà người Mỹ bắt đầu chấp nhận yêu cầu của Nhật Bản nhằm hồi hương các phần thi thể người về lại cố quốc. Trong thập niên 1960, tình cảm dân tộc chủ nghĩa bắt đầu bồi đắp ở Nhật Bản với không ít oán giận hướng về nước Mỹ. “Kho lưu trữ ướt” là trọng tâm chính của mọi căng thẳng và người Nhật muốn lấy lại. 

Các cơ phận nội tạng của nạn nhân Hiroshima tại Viện nghiên cứu y học và sinh học bức xạ thuộc Đại học Hiroshima. Ảnh nguồn: Hiroshima Peace Media.

Các cơ phận nội tạng của nạn nhân Hiroshima tại Viện nghiên cứu y học và sinh học bức xạ thuộc Đại học Hiroshima. Ảnh nguồn: Hiroshima Peace Media.

Tại hội nghị khoa học năm 1967, các nhà khoa học của Hội đồng khoa học Nhật Bản (JSC) đặt câu hỏi: “Họ (các hài cốt) có được quay về cố hương (nước Nhật) không?”. 5 năm trước đó, ngay cả ông Keith Cannan cũng ủng hộ cho việc trả lại tất cả các hài cốt ở ABCC về lại Nhật Bản. Trong một lá thư gửi cho người đứng đầu AFIP vào năm 1967, ông Keith Cannan viết: “Có một chủ đề tế nhị trong những năm gần đây và nó bắt đầu từ bàn tay của những người chống Mỹ. Xuất phát từ thực tế này, tôi cho rằng nên trả lại càng sớm càng tốt”.

Cuối cùng các trung tâm dữ liệu bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki đã mở cửa vào năm 1969 nhằm dọn đường cho việc trao trả lại các cơ phận người. Người Nhật chào đón với hy vọng “lưu trữ ướt” sẽ giúp cho các nhà khoa học Nhật nghiên cứu một đề tài mà họ từng muốn nhưng chưa có dịp thực hiện. 

Mãi tới năm 1973 thì quá trình trao trả mới hoàn tất. Buổi lễ hồi hương diễn ra vào tháng 5 năm 1973 đã đánh dấu cho sự kết thúc hành trình phiêu lưu kéo dài 30 năm. Trong bài báo công bố vào năm 1998 mang tiêu đề “Hồi hương các cơ phận nạn nhân bom nguyên tử về lại Nhật - Đối tượng tự nhiên và ngoại giao”, nhà nghiên cứu M. Susan Lindee nhấn mạnh: “Người Nhật có mặt ở buổi lễ hồi hương với sự im lặng đáng ngạc nhiên, sự im lặng đó đặc biệt tế nhị trong bối cảnh lễ tưởng niệm ở Hiroshima”.

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.

Hồ sơ chương trình chế tạo trực thăng cánh nghiêng của Mỹ

Hồ sơ chương trình chế tạo trực thăng cánh nghiêng của Mỹ

Quân đội Hoa Kỳ xác nhận bắt đầu đưa vào sử dụng máy bay trực thăng cánh quạt nghiêng MV-75 mới vào năm 2027. Điều này sớm hơn ít nhất 5 năm so với kế hoạch ban đầu và sớm hơn 3 năm so với mục tiêu mà quân đội đặt ra. Quân đội Hoa Kỳ thúc đẩy chương trình này trong một thời gian dài, vì coi đây là chương trình đặc biệt quan trọng cho bất kỳ cuộc xung đột quy mô lớn nào trong tương lai ở khu vực Thái Bình Dương.