Chuyện kỳ bí về các mảnh thi thể nạn nhân ở Hiroshima

Làm thế nào và tại sao những phần cơ thể của các nạn nhân thiệt mạng do bom nguyên tử lại nằm ở nước ngoài và phải mất hàng chục năm sau đó mới được đưa về quê nhà Hiroshima. Dưới đây là một trong những tư liệu ly kỳ nhất chưa từng được công bố về thảm họa bom nguyên tử ở Hiroshima.

Trong số các vật phẩm đa dạng trong bộ sưu tập của Viện nghiên cứu y học và sinh học bức xạ thuộc Đại học Hiroshima có 2 lọ mẫu bằng thủy tinh, mỗi lọ cao độ 15cm và chứa một chất dịch trong suốt, bên trong có một cái đốm màu nâu mà nhìn sơ sơ có thể bị nhầm với cái túi tạp hóa nhàu nhĩ. Chúng là tất cả những gì còn lại của nữ diễn viên sân khấu Midori Naka. Naka, người nổi tiếng bởi phong cách kịch nghệ shingeki đã bị quả bom "Chú Bé" phát nổ gần nơi cô sinh sống. Năm đó nữ nghệ sĩ mới tròn 36 xuân xanh.

Naka không chết ngay khi quả bom phát nổ mà rời xa cõi trần 18 ngày sau đó. Midori Naka là người đầu tiên trên thế giới bị chết trong cái căn nguyên được gọi là “ngộ độc bức xạ”. Có một sự thực rõ ràng là hài cốt của Naka sẽ nằm ở Hiroshima ngay bên trong một viện nghiên cứu được tạo ra để tìm hiểu và trị về các căn bệnh liên quan đến bức xạ, nhưng 2 cái lọ thủy tinh đã tìm đến nơi đó trong một lộ trình hết sức kỳ lạ sau hàng thập niên lênh đênh ở nước ngoài cùng với hàng ngàn cơ phận người khác, những mẫu ướt cùng các vật liệu pháp y của các nạn nhân chết vì bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki. 

Phẫu thuật pháp y nạn nhân bom nguyên tử

Đầu hè năm 1945, lúc đến thành phố Hiroshima cùng với đoàn kịch Sakura, Midori Naka là một ngôi sao triển vọng, thành công và đầy quyến rũ. Ông Seiji Ikeda, nam diễn viên, người từng hoạt động chung với Naka, nhớ lại: “Chị ấy mê sân khấu lắm. Không những xinh đẹp, chị ấy còn có trái tim rộng mở. Naka như người chị cả với những người đồng nghiệp quanh mình”. 

Naka cùng các đồng nghiệp thường xuyên khích lệ tinh thần nghệ thuật khi hay tổ chức các buổi diễn cho cánh công nhân làm trong các nhà máy sản xuất đạn dược. Và lúi húi trong nhà bếp của đoàn kịch vào cái buổi sáng của ngày 6 tháng 8 năm 1945 khi vụ nổ bom hạt nhân thứ hai trong lịch sử đã diễn ra chỉ cách đó không đầy 1 dặm (vụ nổ đầu tiên là thử nghiệm Trinity ở New Mexico vào ngày 16 tháng 7 năm 1945).

Chân dung nghệ sĩ sân khấu Midori Naka thuở sinh thời. Ảnh nguồn: Wikipedia.

Chân dung nghệ sĩ sân khấu Midori Naka thuở sinh thời. Ảnh nguồn: Wikipedia.

Naka không bị chết ngay từ vụ nổ ban đầu, tuy nhiên sóng xung kích đã phá hủy tòa nhà (của đoàn kịch Sakura), vài nghệ sĩ trong đoàn kịch đã chết. Bò ra từ đống đổ nát, Naka tìm cách đi khỏi Hiroshima ngay buổi sáng của ngày 10 tháng 8 năm 1945 trên chuyến tàu hỏa đầu tiên đến Tokyo. 

Ngày 16 tháng 8, Naka nhập viện Đại học Tokyo và tình trạng sức khỏe diễn tiến xấu đi. Cô bắt đầu rụng tóc, các vết lở loét bắt đầu xuất hiện khắp cơ thể. Lượng bạch cầu giảm mạnh dù được truyền máu nhiều đợt. Naka ra đi sau buổi trưa ngày 24 tháng 8. Một ngày sau khi nghệ sĩ Midori Naka nhập viện, bác sĩ Koyishi Yamashina thuộc Cục y tế của quân đội Thiên hoàng Nhật Bản cũng từ Hiroshima đến Tokyo. Ông được phái đến Hiroshima từ ngày 8 tháng 8 tức chỉ 2 ngày sau vụ nổ, như là một phần của nhóm khảo sát gồm 9 thành viên.

Là một trong những chuyên gia y tế đầu tiên bắt tay vào thảm họa, bác sĩ Koyishi Yamashina đã thực hiện ca phẫu thuật pháp y đầu tiên trên cơ thể nạn nhân bom nguyên tử vào ngày 10 tháng 8, đó là một cậu bé đã thiệt mạng khi bom phát nổ. 

Tiếp đó bác sĩ Yamashina chủ yếu làm việc trên đảo Ninoshima ở gần đó, nơi nhiều người sống sót được chuyển đến, và quay lại Tokyo vào ngày 17 tháng 8 sau khi đã thực hiện những ca phẫu thuật pháp y. Trong những ngày đầu khốn khổ đó, bác sĩ Yamashina cùng các thầy thuốc khác đã tiến hành một số ca phẫu thuật với những nạn nhân đầu tiên bao gồm bệnh nhân 34 tuổi Nobuki Uchiyama. Báo cáo pháp y của bác sĩ Yamashina mô tả Uchiyama là “người cao ráo, xương đậm, thể trạng dinh dưỡng tốt” khi qua đời vào lúc tảng sáng ngày 13 tháng 8.

Nạn nhân Uchiyama bị nạn chỉ cách chấn tâm (khu vực số 0 trên bộ) khi quả bom phát nổ ở độ cao 579m. Vùng thái dương phải của nạn nhân bị dập nát, bị thương ở chân phải, vai và cánh tay bị cháy sém. Sau cái chết của Uchiyama, bác sĩ Yamashina đã tiến hành lấy đi các cơ phận nội tạng của nạn nhân bao gồm lá lách (130 gram), quả tim (290 gram) và thận phải (140 gram). 

Trong suốt 2 tháng 8 và 9, các nhà Bệnh học Nhật Bản đã tiến hành hàng loạt ca giải phẫu pháp y khi số lượng nạn nhân không ngừng tăng. Họ mổ xẻ các nội tạng, thực hiện lấy các mô tế bào và dần dần hình thành một thư viện bệnh học mới bao gồm “hồ sơ ướt” (các mẫu nội tạng được bảo quản). Sau rốt công việc của các bác sĩ là cố gắng tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với các đồng bào mình để có thể cứu sống những người khác.

Nhưng rất nhiều lần các bác sĩ lâm vào thế kẹt khi lúng túng trước các trường hợp lạ lẫm hoàn toàn không có trong sách vở y khoa, một thảm họa nhân tạo làm biến dạng cơ thể người theo nhiều cách chưa từng thấy. (Có thể kể đến nhà bác học Marie Curie đã chết do phơi nhiễm bức xạ, nhưng không phải là kiểu ngộ độc bức xạ cấp tính từ một liều lượng lớn). 

Người Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, tức chỉ 6 ngày sau khi xảy ra vụ thả bom ở thành phố Nagasaki, và thuật ngữ “đầu hàng” chỉ chính thức đặt bút ký vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Cuối tháng 9 đó, các nhóm chuyên gia y tế Mỹ bắt đầu đến Nhật. Vào thời điểm đó, các nhà Bệnh học Nhật Bản đã thu thập một kho lưu trữ lớn các cơ quan nội tạng mà họ hy vọng sẽ trị khỏi cho nhiều bệnh nhân bằng sự chăm sóc của họ.

Những toan tính của người Mỹ

Khi đội khảo sát Nhật lần đầu tiên đến Hiroshima, các nhóm y tế Mỹ đã làm việc cùng các đồng nghiệp Nhật. Nhưng đến tháng 11 thì sứ mạng đột ngột thay đổi. Các viên chức quân sự Mỹ đã tự thu thập các mẫu nội tạng và đưa chúng về Mỹ. Các phần tử thi từ ít nhất 218 ca phẫu thuật cùng với 1.400 mẫu khác đã được chuyển đến Washington, D.C., nhằm phục vụ cho nghiên cứu chuyên sâu. 

Viện bệnh học lực lượng vũ trang Mỹ (AFIP), nơi chuyên thu thập và nghiên cứu các cơ quan nội tạng nạn nhân bom nguyên tử ở Nhật Bản. Ảnh nguồn: Public Domain Files.

Viện bệnh học lực lượng vũ trang Mỹ (AFIP), nơi chuyên thu thập và nghiên cứu các cơ quan nội tạng nạn nhân bom nguyên tử ở Nhật Bản. Ảnh nguồn: Public Domain Files.

Khỏi cần nói cũng biết các nhà khoa học Nhật Bản đã kinh ngạc đến thế nào. Nhà nghiên cứu Bệnh học người Nhật Bản, Chuta Tamagawa của Đại học Hiroshima, từng rất ca thán việc chuyển giao này, sau này ông giải thích với tờ Chugoku Shimbun rằng: “Xác chết và tài liệu pháp y không phải là chiến lợi phẩm của chiến tranh”. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản phàn nàn rằng rất nhiều tài liệu pháp y đã vĩnh viễn không được người Mỹ trả lại.

Những phần thi thể được lấy từ Hiroshima và Nagasaki đã tạo ra một kho lưu trữ quan trọng nhằm hiểu thêm về tác động của bức xạ, và ngay từ phút đầu chính phủ Mỹ đã tỏ ra rất quan tâm tới bộ sưu tập mới này. 

Ấn phẩm đăng năm 1946 trên tờ Dịch vụ tin tức quốc tế (INS) khi thảo luận về hài cốt của nghệ sĩ Midori Naka đã tiết lộ rằng các nhà khoa học từng quả quyết có một loại cấu trúc của nạn nhân ngay tại thời điểm phơi nhiễm tác động của bức xạ: “Số phận của người Nhật tương quan với loại tòa nhà và địa điểm khi nạn nhân bị thương hoặc tử vong. Kiến thức này rất quan trọng vì nó dẫn đến việc phát triển cấu trúc phòng thủ”. Nhiều đánh giá khoa học về bụi và ngộ độc bức xạ đã dựa đáng kể vào “kho lưu trữ ướt”. Nhưng để những tử thi này có giá trị khoa học thì các cơ quan nội tạng phải được nguyên tử hóa và mổ xẻ, cắt thành nhiều lát thật mỏng, giữ ổn định trong sáp và formaldehyde, bảo tồn hoặc cắt xén.

Các cơ phận người được đưa tới Mỹ đã mất tất cả những mối liên hệ cá nhân và đặc tính của chúng. Bấy giờ chúng không còn đơn thuần là xác người nữa mà đã trở thành những phần nhỏ hơn cho một kiến thức mới mẻ về cơ thể. 

Trong khi phần lớn “kho lưu trữ ướt” buổi ban đầu là do sự thu thập của các nhà khoa học Nhật Bản trong 2 kỳ hè, thu năm 1945, thì Ủy ban thương vong bom nguyên tử Mỹ (ABCC) đã tiếp tục thu thập mẫu suốt nhiều năm sau đó nhằm mục tiêu thành lập một bệnh xá ở Hiroshima để điều trị cho các nạn nhân bức xạ cũng như thu thập tài liệu khám nghiệm tử thi từ những người chết. Trong khi có những gia đình Nhật Bản sốt sắng với dự định của người Mỹ thì cũng có một bộ phận xem ABCC là “tổ chức cướp xác”. Tuần báo Asahi năm 1966 ví von ABCC là “đám kền kền” hay “mạng lưới tìm xác thối”, và hé lộ những người cung cấp tin cho ABCC sẽ được trả công 60 Yên / xác. 

Trong cuốn sách công bố năm 1958 mang tựa đề “Những đứa trẻ từ tàn tro”, nhà báo người Áo, Robert Jungk, đã viết: “Ở ABCC có một nơi gọi là “phòng chẩn đoán” nơi thực hiện “các ca thú vị”: chủ yếu dùng cho các xác chết vì bệnh bức xạ hoặc các bệnh nan y liên quan”. 

Theo thời gian, “phòng chẩn đoán” đã cung cấp cho ABCC nhiều tư liệu nghiên cứu lâm sàng, song tiếng của nó lan xa đến nỗi Kiyoshi Kikkawa, một trong những sáng lập viên của Hiệp hội nạn nhân nguyên tử (AAV) phải gọi nó là “nhà máy sản xuất xác chết”. Buổi ban đầu khi đưa các cơ phận người sang Mỹ, chúng được giấu rải rác trong các tòa nhà quanh thủ đô Washington D.C, nhưng đến năm 1949 thì mọc lên một cấu trúc khổng lồ có khả năng chống chịu bom nguyên tử mang tên “Viện bệnh học lực lượng vũ trang (AFIP) đi vào hoạt động vào năm 1955.

Tất cả cơ quan nội tạng mang từ Nhật Bản sang Mỹ sẽ được chuyển đến phòng chuẩn bị trong Đơn vị nguyên tử của AFIP. Cứ mỗi bước sẽ có các con số và thẻ nhận dạng được cung cấp nhằm loại bỏ danh tính của các tử thi. Thời gian trôi đi, việc lập danh mục ngày càng trở nên lộn xộn khiến các mẫu vật dần bị mất đi ý nghĩa. Đó cũng là lý do khiến cho ông R. Keith Cannan, giám đốc điều hành của ABCC và đồng thời là chủ tịch của Bộ phận khoa học y tế thuộc Viện hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ (NAS) dần dần tin rằng “lưu trữ ướt” đang mất đi tính hữu dụng khoa học.

Hành trình hồi hương đất mẹ

Chính trong bối cảnh lộn xộn mẫu vật ở ABCC mà người Mỹ bắt đầu chấp nhận yêu cầu của Nhật Bản nhằm hồi hương các phần thi thể người về lại cố quốc. Trong thập niên 1960, tình cảm dân tộc chủ nghĩa bắt đầu bồi đắp ở Nhật Bản với không ít oán giận hướng về nước Mỹ. “Kho lưu trữ ướt” là trọng tâm chính của mọi căng thẳng và người Nhật muốn lấy lại. 

Các cơ phận nội tạng của nạn nhân Hiroshima tại Viện nghiên cứu y học và sinh học bức xạ thuộc Đại học Hiroshima. Ảnh nguồn: Hiroshima Peace Media.

Các cơ phận nội tạng của nạn nhân Hiroshima tại Viện nghiên cứu y học và sinh học bức xạ thuộc Đại học Hiroshima. Ảnh nguồn: Hiroshima Peace Media.

Tại hội nghị khoa học năm 1967, các nhà khoa học của Hội đồng khoa học Nhật Bản (JSC) đặt câu hỏi: “Họ (các hài cốt) có được quay về cố hương (nước Nhật) không?”. 5 năm trước đó, ngay cả ông Keith Cannan cũng ủng hộ cho việc trả lại tất cả các hài cốt ở ABCC về lại Nhật Bản. Trong một lá thư gửi cho người đứng đầu AFIP vào năm 1967, ông Keith Cannan viết: “Có một chủ đề tế nhị trong những năm gần đây và nó bắt đầu từ bàn tay của những người chống Mỹ. Xuất phát từ thực tế này, tôi cho rằng nên trả lại càng sớm càng tốt”.

Cuối cùng các trung tâm dữ liệu bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki đã mở cửa vào năm 1969 nhằm dọn đường cho việc trao trả lại các cơ phận người. Người Nhật chào đón với hy vọng “lưu trữ ướt” sẽ giúp cho các nhà khoa học Nhật nghiên cứu một đề tài mà họ từng muốn nhưng chưa có dịp thực hiện. 

Mãi tới năm 1973 thì quá trình trao trả mới hoàn tất. Buổi lễ hồi hương diễn ra vào tháng 5 năm 1973 đã đánh dấu cho sự kết thúc hành trình phiêu lưu kéo dài 30 năm. Trong bài báo công bố vào năm 1998 mang tiêu đề “Hồi hương các cơ phận nạn nhân bom nguyên tử về lại Nhật - Đối tượng tự nhiên và ngoại giao”, nhà nghiên cứu M. Susan Lindee nhấn mạnh: “Người Nhật có mặt ở buổi lễ hồi hương với sự im lặng đáng ngạc nhiên, sự im lặng đó đặc biệt tế nhị trong bối cảnh lễ tưởng niệm ở Hiroshima”.

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.