Chuyện chưa kể về bí mật cuộc đời Audrey Hepburn

Audrey Hepburn là một trong những ngôi sao điện ảnh mang tính biểu tượng nhất của thế kỷ 20, tuy nhiên những hoạt động mật của bà với phong trào kháng chiến Hà Lan và Đức Quốc xã (ĐQX) trong thời Thế chiến II thì hầu hết đã bị lãng quên.

Tác giả bài viết là David Crow, biên tập viên điện ảnh tại Den of Geek. Ông David cũng là thành viên của Giải lựa chọn của nhà phê bình điện ảnh và Hiệp hội phê bình phim trực tuyến (OFCS). Bài viết này được công bố vào ngày 15 tháng 4 năm 2021. 

Quá khứ bị giấu kín của Audrey Hepburn

 Trong hàng ngàn câu chuyện về lòng dũng cảm của thời Thế chiến II, đáng chú ý là sự kiện Chiến dịch Market Garden. Đó là một thất bại kỹ thuật của phe Đồng Minh trong việc đánh bại ĐQX vào năm 1944, cuộc xâm lược Hà Lan đã khiến lực lượng lính dù Anh bị mắc kẹt quanh một cây cầu ở Arnhem, quá xa xe tăng của họ để bảo vệ phòng tuyến.

18-1.jpg -0
Audrey Hepburn gặp Fritzi và Otto Frank (cha của Anne Frank) vào năm 1957. Ảnh nguồn: Robert Matzen / Anne Frank House.

Vào mùa Thu năm 1944, gia đình của Audrey Hepburn đã giấu một người lính dù Anh dưới căn hầm trong nhà mình, điều này quả là hoàn toàn tương phản với hình ảnh thường thấy của Audrey trên màn ảnh và cả ngoài đời thực. Đến mùa Đông năm 1945, gia đình Audrey vẫn sống ở đó, có cảm giác như “bò ra khỏi giường” khi bom rơi trên đầu ngôi làng Velp của họ. Những chuyện này đã bị lược bỏ khỏi lịch sử, thậm chí những cuốn sách viết về Audrey Hepburn và Hollywood giữa thế kỷ 20 cũng không hề đề cập. Mãi đến khi nhà viết tiểu sử Robert Matzen công bố cuốn sách “Những cô gái Hà Lan: Audrey Hepburn và Thế chiến II” thì độc giả khắp nơi mới biết về những hoạt động cách mạng và tình báo của nữ diễn viên này.

Suốt hàng thập kỷ, các nhà viết tiểu sử viết về Audrey Hepburn thường sử dụng những thông tin ít ỏi mà nữ diễn viên kể với báo chí về xuất thân thời thơ ấu của mình: về nỗi kinh sợ vào cái ngày ĐQX đến Hà Lan, phá hủy cây cầu mà bà vừa đi qua, và niềm hân hoan vào cái ngày tháng 4 khi quân Canada đến giải phóng làng Velp (cũng là lần đầu tiên Audrey hút thuốc lá), phần lớn những sự kiện thời Thế chiến II đã bị bỏ quên. Điều này bao gồm những đóng góp của Audrey cho phong trào Hà Lan trong công tác giao thư cho các phi công Anh bị bắn rơi, cũng như bà từng học múa ba lê trong những năm đầu quân Đức chiếm đóng, từng khiêu vũ với bọn phát xít. Có lẽ quan trọng hơn là quan điểm chính trị của cha mẹ Audrey trước khi ĐQX xâm lược Hà Lan.

Nhà viết tiểu sử Robert Matzen giải thích: “Các bậc song thân của Audrey là những người thân Đức, những người ủng hộ thân ĐQX trong thời gian Hà Lan bị xâm lược. Bản thân Audrey bất đồng với cha mẹ về quan điểm này. Đó là bí mật nhất mà bà ấy giấu kín, và không bao giờ hé môi với cánh báo chí về việc này vì nó sẽ làm hoen ố danh tiếng và có thể giết chết sự nghiệp diễn xuất của bà”.

Sự khiêm tốn được nuôi dưỡng trong con người của Audrey đã khiến bà không bao giờ khoe khoang hay phàn nàn về bất kỳ điều gì, cũng như những câu chuyện về các buổi khiêu vũ để quyên tiền của bà trong những cuộc gặp mặt riêng tư nhằm giúp che giấu và nuôi sống những người hàng xóm Do Thái khi bọn lính Đức đi trên đầu. Cha mẹ của Audrey thực sự là những cảm tình viên phát xít, nhất là người mẹ Ella van Heemstra, bà đã trực tiếp gặp mặt Đức Quốc trưởng tại “sào huyệt” ở Munich năm 1935.

Năm 1935, Audrey (hay tên còn nhỏ là Adriaantje) lên 6 tuổi. Một năm sau đó đứa trẻ sinh ra ở Brussels được gửi đến một trường nội trú tại hạt Kent (Anh), rời xa vòng tay cha mẹ. Người cha đã đi chuyến bay cuối cùng để đem theo con gái rời khỏi nước Anh trước khi chiến tranh bắt đầu. Đó là tháng 12 năm 1939, khi đó Audrey lên 10 và không biết nói tiếng Hà Lan. Sau khi đặt chân tới Amsterdam, người mẹ lập tức hạ lệnh “Hãy làm người Hà Lan!”.

Vỡ mộng vì cái chết của OTTO

Những năm đó thứ đã đưa Audrey thoát khỏi vỏ bọc gia đình là các bài học khiêu vũ, và thứ đã đưa mẹ cô quay lại thực tại trong gia đình kháng phát xít, bao gồm người cha là Nam tước Aarnoud van Heemstra, và người anh rể Otto Ernst Gelder van Limburg Stirum. Trên thực tế, định mệnh của Otto đã trở thành bước ngoặt cho cả gia đình, chưa đề cập đến đất nước Hà Lan.

Bởi vì khi Otto (cùng với 4 người Hà Lan khác) bị lùa vào rừng và bị xử tử trong một ngôi mộ nông, thì người Đức đã tự tạo ra điều mà họ không bao giờ muốn: quần chúng kháng chiến. Đó là ngày 15 tháng 8 năm 1942 khi Otto đứng trước một đội xử bắn, lúc đó Audrey mới 13 tuổi. Nhà viết tiểu sử Robert Matzen khẳng định: “Otto van Limburg Stirum là một nhân vật bí ẩn mà tôi phải cất công tìm hiểu, vì người này không được lịch sử đả động, không có dòng nào trong lịch sử của Audrey”.

Ông Robert Matzen nhấn mạnh: “Việc Audrey không nhắc đến Otto cho thấy người này quan trọng như thế nào với bà ấy”. Khi lực lượng kháng chiến non trẻ thời đó đã làm gì đó không tốt với người Đức, thế là Otto và những người có cảm tình kháng phát xít sẽ bị xử tử. Ông Matzen phân tích: “Cái chết của Otto hẳn là một nỗi thống khổ đối với gia đình Van Heemstra nói chung và Audrey nói riêng, nó đã tác động rất sâu sắc đến bà ấy, tạo ra cho bà ấy một sự bất an cả đời”.

Ông Matzen kể tiếp: “Năm 1942, Audrey đã hoàn toàn vỡ mộng. Nhưng vào các kỳ nghỉ lễ của năm 1941, và vẫn tổ chức các sự kiện ủng hộ Đức ở Arnhem. Nhưng khi Otto bị xử bắn, bà Ella đã đưa Audrey đến nhà người vợ của Otto là Meisje (em gái của bà Ella) ở Velp… Meisje và Otto được cho là sẽ dọn tới sống với người ông của họ. Otto chưa kịp thực hiện thì bị bắt và tống giam. Ngôi nhà vì thế mà luôn trống trải”.

Hoạt động kháng chiến

Tội ác chiến tranh biến bà Meisje sớm thành góa phụ và buộc cả nhà Van Heemstras hành động tích cực hơn trong việc chống giặc ngoại xâm. Audrey đã thực hiện những buổi khiêu vũ cá nhân để quyên tiền cho phong trào kháng chiến Hà Lan cùng các hoạt động phá hoại ĐQX. Chính Audrey đã tái thiết mạng lưới kháng chiến ở thành phố Velp và khu vực Arnhem rộng lớn hơn.

Nói về thời gian ở Velp, ông Robert Matzen kể: “Tôi ngồi cùng với một số người cùng thời với Audrey, họ là những cô gái trẻ trong thời chiến. Một cô gái trong số đó là con của thủ lĩnh phe kháng chiến (bác sĩ Hendrik Visser‘t Hooft). Bác sĩ Visser‘t Hooft đã tập hợp toàn bộ các bác sĩ gia đình trong vùng vào những nỗ lực kháng chiến của mình. Ông Visser‘t Hooft biết rõ các chuyên gia y tế là một mặt hàng quý giá trong thời chiến ngay cả khi ĐQX chiếm đóng, cũng như ông biết rằng người Đức không quan tâm tới trẻ em.

Ông Matzen kể: “Người Hà Lan đủ khôn ngoan để cho lũ trẻ mang tin tức đi khắp nơi từ nhà này sang nhà kia. Họ trao cho chúng thuốc men. Audrey được giao mang tin tức và thức ăn cho các phi công bị bắn rơi vì bà từng có thời gian sống ở Anh nên nói tiếng Anh trôi chảy”. Tại thời điểm tên lửa V2 gặp trục trặc trên không phận Hà Lan và rơi xuống đầu thường dân, hoặc khi máy bay của quân Đồng Minh bay qua đầu với những ngón tay bóp cò ngứa ngáy, gia đình Van Heemstra đang ở trong một căn hầm nơi các lính dù Quỷ đỏ ẩn trú.

Dần dần khi hết thức ăn, những người dưới hầm ăn củ hoa uất kim hương. Khi củ hoa cũng hết thì phải ăn cỏ dại. Giống như nhiều trẻ em Hà Lan trong thời kỳ đó, Audrey bắt đầu thiếu máu và phù nề. Ông Matzen lập luận rằng nếu không được ăn uống đúng cách, thì Audrey sẽ chết vì chứng ung thư ruột thừa. Sau rồi những đứa trẻ học cách sống lạc quan dù mưa bom bão đạn trên đầu.

Ông Matzen kể: “Trận chiến đã làm tiêu điều khu vực trung tâm Arnhem, phá hủy phòng khiêu vũ nơi Audrey học nhảy, phá nát nhà cửa của bà. Nhưng chớ hề gì, họ là những hiệp sĩ trong bộ giáp sáng bóng đến để giải phóng Hà Lan…. và đó là người Canada đến giải phóng Velp.  Họ đã mang thức ăn, đồ cứu trợ đến cứu sống nhiều sinh mạng”. Khi được giải phóng, Audrey đã ăn ngấu nghiến một thanh sô cô la Canada đến ngán ngấy.

Cũng cần biết rằng đối với Audrey Hepburn, việc trở thành siêu sao Hollywood đã đến hết sức tình cờ. Ông Luca Dotti (người con trai thứ 2 của Audrey) kể với ông Matzen rằng mẹ ông mỗi khi dạy con đều lấy những thứ bà đã trải qua trong chiến tranh, chứ không phải là sự nghiệp hào nhoáng, ngắn ngủi của bà ở Hollywood. Một số người quả quyết rằng (cả ông Matzen) vai diễn đưa Audrey đến Hollywood và biến bà thành siêu sao quốc tế đã được hình thành trực tiếp từ trải nghiệm thời chiến của bà.

18-3.jpg -0
Audrey Hepburn ngồi ở vùng đồi núi Sonsbeek tại Arnhem vào tháng 2 năm 1942. Ảnh nguồn: Robert Matzen / Audrey Hepburn Estate Collection.

Giải mật điện ảnh và cuộc đời cuối

Với bộ phim “Roman Holiday” công chiếu năm 1953, bộ phim Mỹ đầu tiên đã khiến Audrey Hepburn chiến thắng giải Oscar, nhà viết tiểu sử Robert Matzen giải thích: “Audrey xuất thân từ tầng lớp quý tộc, nên bà đã mang điều đó vào vai công chúa. Nhưng thời đó bà cũng là cô gái trẻ và theo một số cách là rất non nớt và chịu sự che chở, và việc bà ấy tập trung vào khiêu vũ mà đánh đổi sự phát triển thực sự của mình. Audrey thật sự rất đam mê khiêu vũ và sau đó là bị mắc kẹt trong căn hầm…

Thực tế này rất giống cảnh công chúa Ann trong phim khi nàng trốn khỏi cung điện và bắt đầu khám phá thành Rome. Ann là một đứa trẻ trong rừng giống như Audrey. Phẩm chất ngây thơ của Audrey đã thổi hồn cho vai công chúa Ann khiến màn trình diễn trở nên chân thực hơn, và cũng do Audrey chưa từng được đào tạo diễn xuất chính thức. Thực sự bà ấy đã hành động theo bản năng và mang kinh nghiệm sống của mình vào vai diễn”.

Trong sự nghiệp diễn xuất ngắn ngủi của mình, Audrey Hepburn đã hóa thân thành nhiều vai phụ nữ khác nhau, từ cô gái xinh đẹp Holly Golightly trong bộ phim Breakfast at Tiffany’s cho đến cô nàng loạn trí Eliza Doolittle trong phim My Fair Lady. Nhưng bà chưa từng làm phim truyền hình về Thế chiến II.

Đáng chú ý là bà còn miễn cưỡng từ chối ông Otto Frank (cha ruột của Anne Frank) người từng muốn gặp mặt Audrey hồi thập niên 1950 để đóng vai con gái của ông trên màn ảnh. Audrey liên quan quá nhiều đến Anne Frank (người đã bị sát hại trong trại tập trung ĐQX vì di sản Do Thái của mình) để có thể nhập vai Anne xuất sắc. Đó là câu chuyện mà Audrey đã bị ảnh hưởng rất sâu sắc từ trước khi đóng Roman Holiday. Ông Matzen giải thích: “Sau Thế chiến II, Audrey và mẹ chuyển tới Amsterdam để Audrey có thể tiếp tục đeo đuổi sự nghiệp khiêu vũ. Và rất tình cờ, họ được chuyển tới một căn hộ nơi có nhà biên tập phim đang làm việc với tập bản thảo “Nhật ký Anne Frank”.

Ông Matzen tiếp tục kể: “Nhà biên tập này lại biết về trải nghiệm chiến tranh của Audrey, tình yêu khiêu vũ của bà, và nói thẳng “Cô biết chăng? Cuốn nhật ký này sẽ thật sự khiến cô phải quan tâm đấy”. Vì thế Audrey đã đọc bản thảo trước khi nó được xuất bản. Anne Frank sinh ra sau Audrey chỉ 6 tuần. Anne Frank đến từ Frankfurt (Đức), còn Audrey đến từ Brussels (Bỉ). Họ đều là những cô gái Hà Lan, và trong thời chiến họ sống cách nhau 60 dặm ngay trên đất Hà Lan. Họ cùng chia sẻ cuộc sống dưới ách chiếm đóng và phập phồng lo bọn Đức hàng ngày.

Anne Frank ngừng viết nhật ký vào tháng 8 năm 1944… còn Audrey thì sống sót nhưng bà không dùng cụm từ “người sống sót tội lỗi”. Bà Audrey lịch sự từ chối lời đề nghị của ông Otto Frank, bà chưa từng nghĩ cách kiếm tiền từ câu chuyện đó. Phải nhiều năm sau đó khi đã là đại sứ thiện chí của UNICEF, bà Audrey mới tiết lộ chút ít về chuyện này.

Nhiệm vụ mới mà Audrey đảm nhiệm là đọc cuốn nhật ký Anne Frank tại các bữa dạ tiệc, cũng như đến những quốc gia bị chiến tranh tàn phá nhằm gia tăng nhận thức về trẻ em đói khát: một trải nghiệm ớn lạnh mà chính Audrey đã đối mặt trong những năm chiến tranh. Câu chuyện về Audrey Hepburn trong vai trò nhân đạo của UNICEF lúc cuối đời cũng là đề tài cho cuốn sách “Warrior” (Chiến binh) của ông Robert Matzen. Chính người con trai Luca Dotti đã thuyết phục ông Matzen viết về mẹ mình.

Những hình ảnh của Audrey Hepburn trong thời làm cho UNICEF là cảnh bà đang ôm trên tay những đứa trẻ chết đói. Tuy nhiên có những thứ bị ẩn đi làm thế nào bà đến được những nơi đó, hoặc các vùng chiến sự mà bà đã trốn tránh. Khi có ai đó hỏi tại lễ trao giải Oscar rằng làm thế nào Audrey có thể đi từ thế giới này sang thế giới khác, bà đáp: “Tôi không coi đó là hai thế giới khác biệt. Đó là tất cả cuộc đời tôi”.

Nguyễn Thanh Hải (Tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.