Chuyện chưa kể về bí mật cuộc đời Audrey Hepburn

Audrey Hepburn là một trong những ngôi sao điện ảnh mang tính biểu tượng nhất của thế kỷ 20, tuy nhiên những hoạt động mật của bà với phong trào kháng chiến Hà Lan và Đức Quốc xã (ĐQX) trong thời Thế chiến II thì hầu hết đã bị lãng quên.

Tác giả bài viết là David Crow, biên tập viên điện ảnh tại Den of Geek. Ông David cũng là thành viên của Giải lựa chọn của nhà phê bình điện ảnh và Hiệp hội phê bình phim trực tuyến (OFCS). Bài viết này được công bố vào ngày 15 tháng 4 năm 2021. 

Quá khứ bị giấu kín của Audrey Hepburn

 Trong hàng ngàn câu chuyện về lòng dũng cảm của thời Thế chiến II, đáng chú ý là sự kiện Chiến dịch Market Garden. Đó là một thất bại kỹ thuật của phe Đồng Minh trong việc đánh bại ĐQX vào năm 1944, cuộc xâm lược Hà Lan đã khiến lực lượng lính dù Anh bị mắc kẹt quanh một cây cầu ở Arnhem, quá xa xe tăng của họ để bảo vệ phòng tuyến.

18-1.jpg -0
Audrey Hepburn gặp Fritzi và Otto Frank (cha của Anne Frank) vào năm 1957. Ảnh nguồn: Robert Matzen / Anne Frank House.

Vào mùa Thu năm 1944, gia đình của Audrey Hepburn đã giấu một người lính dù Anh dưới căn hầm trong nhà mình, điều này quả là hoàn toàn tương phản với hình ảnh thường thấy của Audrey trên màn ảnh và cả ngoài đời thực. Đến mùa Đông năm 1945, gia đình Audrey vẫn sống ở đó, có cảm giác như “bò ra khỏi giường” khi bom rơi trên đầu ngôi làng Velp của họ. Những chuyện này đã bị lược bỏ khỏi lịch sử, thậm chí những cuốn sách viết về Audrey Hepburn và Hollywood giữa thế kỷ 20 cũng không hề đề cập. Mãi đến khi nhà viết tiểu sử Robert Matzen công bố cuốn sách “Những cô gái Hà Lan: Audrey Hepburn và Thế chiến II” thì độc giả khắp nơi mới biết về những hoạt động cách mạng và tình báo của nữ diễn viên này.

Suốt hàng thập kỷ, các nhà viết tiểu sử viết về Audrey Hepburn thường sử dụng những thông tin ít ỏi mà nữ diễn viên kể với báo chí về xuất thân thời thơ ấu của mình: về nỗi kinh sợ vào cái ngày ĐQX đến Hà Lan, phá hủy cây cầu mà bà vừa đi qua, và niềm hân hoan vào cái ngày tháng 4 khi quân Canada đến giải phóng làng Velp (cũng là lần đầu tiên Audrey hút thuốc lá), phần lớn những sự kiện thời Thế chiến II đã bị bỏ quên. Điều này bao gồm những đóng góp của Audrey cho phong trào Hà Lan trong công tác giao thư cho các phi công Anh bị bắn rơi, cũng như bà từng học múa ba lê trong những năm đầu quân Đức chiếm đóng, từng khiêu vũ với bọn phát xít. Có lẽ quan trọng hơn là quan điểm chính trị của cha mẹ Audrey trước khi ĐQX xâm lược Hà Lan.

Nhà viết tiểu sử Robert Matzen giải thích: “Các bậc song thân của Audrey là những người thân Đức, những người ủng hộ thân ĐQX trong thời gian Hà Lan bị xâm lược. Bản thân Audrey bất đồng với cha mẹ về quan điểm này. Đó là bí mật nhất mà bà ấy giấu kín, và không bao giờ hé môi với cánh báo chí về việc này vì nó sẽ làm hoen ố danh tiếng và có thể giết chết sự nghiệp diễn xuất của bà”.

Sự khiêm tốn được nuôi dưỡng trong con người của Audrey đã khiến bà không bao giờ khoe khoang hay phàn nàn về bất kỳ điều gì, cũng như những câu chuyện về các buổi khiêu vũ để quyên tiền của bà trong những cuộc gặp mặt riêng tư nhằm giúp che giấu và nuôi sống những người hàng xóm Do Thái khi bọn lính Đức đi trên đầu. Cha mẹ của Audrey thực sự là những cảm tình viên phát xít, nhất là người mẹ Ella van Heemstra, bà đã trực tiếp gặp mặt Đức Quốc trưởng tại “sào huyệt” ở Munich năm 1935.

Năm 1935, Audrey (hay tên còn nhỏ là Adriaantje) lên 6 tuổi. Một năm sau đó đứa trẻ sinh ra ở Brussels được gửi đến một trường nội trú tại hạt Kent (Anh), rời xa vòng tay cha mẹ. Người cha đã đi chuyến bay cuối cùng để đem theo con gái rời khỏi nước Anh trước khi chiến tranh bắt đầu. Đó là tháng 12 năm 1939, khi đó Audrey lên 10 và không biết nói tiếng Hà Lan. Sau khi đặt chân tới Amsterdam, người mẹ lập tức hạ lệnh “Hãy làm người Hà Lan!”.

Vỡ mộng vì cái chết của OTTO

Những năm đó thứ đã đưa Audrey thoát khỏi vỏ bọc gia đình là các bài học khiêu vũ, và thứ đã đưa mẹ cô quay lại thực tại trong gia đình kháng phát xít, bao gồm người cha là Nam tước Aarnoud van Heemstra, và người anh rể Otto Ernst Gelder van Limburg Stirum. Trên thực tế, định mệnh của Otto đã trở thành bước ngoặt cho cả gia đình, chưa đề cập đến đất nước Hà Lan.

Bởi vì khi Otto (cùng với 4 người Hà Lan khác) bị lùa vào rừng và bị xử tử trong một ngôi mộ nông, thì người Đức đã tự tạo ra điều mà họ không bao giờ muốn: quần chúng kháng chiến. Đó là ngày 15 tháng 8 năm 1942 khi Otto đứng trước một đội xử bắn, lúc đó Audrey mới 13 tuổi. Nhà viết tiểu sử Robert Matzen khẳng định: “Otto van Limburg Stirum là một nhân vật bí ẩn mà tôi phải cất công tìm hiểu, vì người này không được lịch sử đả động, không có dòng nào trong lịch sử của Audrey”.

Ông Robert Matzen nhấn mạnh: “Việc Audrey không nhắc đến Otto cho thấy người này quan trọng như thế nào với bà ấy”. Khi lực lượng kháng chiến non trẻ thời đó đã làm gì đó không tốt với người Đức, thế là Otto và những người có cảm tình kháng phát xít sẽ bị xử tử. Ông Matzen phân tích: “Cái chết của Otto hẳn là một nỗi thống khổ đối với gia đình Van Heemstra nói chung và Audrey nói riêng, nó đã tác động rất sâu sắc đến bà ấy, tạo ra cho bà ấy một sự bất an cả đời”.

Ông Matzen kể tiếp: “Năm 1942, Audrey đã hoàn toàn vỡ mộng. Nhưng vào các kỳ nghỉ lễ của năm 1941, và vẫn tổ chức các sự kiện ủng hộ Đức ở Arnhem. Nhưng khi Otto bị xử bắn, bà Ella đã đưa Audrey đến nhà người vợ của Otto là Meisje (em gái của bà Ella) ở Velp… Meisje và Otto được cho là sẽ dọn tới sống với người ông của họ. Otto chưa kịp thực hiện thì bị bắt và tống giam. Ngôi nhà vì thế mà luôn trống trải”.

Hoạt động kháng chiến

Tội ác chiến tranh biến bà Meisje sớm thành góa phụ và buộc cả nhà Van Heemstras hành động tích cực hơn trong việc chống giặc ngoại xâm. Audrey đã thực hiện những buổi khiêu vũ cá nhân để quyên tiền cho phong trào kháng chiến Hà Lan cùng các hoạt động phá hoại ĐQX. Chính Audrey đã tái thiết mạng lưới kháng chiến ở thành phố Velp và khu vực Arnhem rộng lớn hơn.

Nói về thời gian ở Velp, ông Robert Matzen kể: “Tôi ngồi cùng với một số người cùng thời với Audrey, họ là những cô gái trẻ trong thời chiến. Một cô gái trong số đó là con của thủ lĩnh phe kháng chiến (bác sĩ Hendrik Visser‘t Hooft). Bác sĩ Visser‘t Hooft đã tập hợp toàn bộ các bác sĩ gia đình trong vùng vào những nỗ lực kháng chiến của mình. Ông Visser‘t Hooft biết rõ các chuyên gia y tế là một mặt hàng quý giá trong thời chiến ngay cả khi ĐQX chiếm đóng, cũng như ông biết rằng người Đức không quan tâm tới trẻ em.

Ông Matzen kể: “Người Hà Lan đủ khôn ngoan để cho lũ trẻ mang tin tức đi khắp nơi từ nhà này sang nhà kia. Họ trao cho chúng thuốc men. Audrey được giao mang tin tức và thức ăn cho các phi công bị bắn rơi vì bà từng có thời gian sống ở Anh nên nói tiếng Anh trôi chảy”. Tại thời điểm tên lửa V2 gặp trục trặc trên không phận Hà Lan và rơi xuống đầu thường dân, hoặc khi máy bay của quân Đồng Minh bay qua đầu với những ngón tay bóp cò ngứa ngáy, gia đình Van Heemstra đang ở trong một căn hầm nơi các lính dù Quỷ đỏ ẩn trú.

Dần dần khi hết thức ăn, những người dưới hầm ăn củ hoa uất kim hương. Khi củ hoa cũng hết thì phải ăn cỏ dại. Giống như nhiều trẻ em Hà Lan trong thời kỳ đó, Audrey bắt đầu thiếu máu và phù nề. Ông Matzen lập luận rằng nếu không được ăn uống đúng cách, thì Audrey sẽ chết vì chứng ung thư ruột thừa. Sau rồi những đứa trẻ học cách sống lạc quan dù mưa bom bão đạn trên đầu.

Ông Matzen kể: “Trận chiến đã làm tiêu điều khu vực trung tâm Arnhem, phá hủy phòng khiêu vũ nơi Audrey học nhảy, phá nát nhà cửa của bà. Nhưng chớ hề gì, họ là những hiệp sĩ trong bộ giáp sáng bóng đến để giải phóng Hà Lan…. và đó là người Canada đến giải phóng Velp.  Họ đã mang thức ăn, đồ cứu trợ đến cứu sống nhiều sinh mạng”. Khi được giải phóng, Audrey đã ăn ngấu nghiến một thanh sô cô la Canada đến ngán ngấy.

Cũng cần biết rằng đối với Audrey Hepburn, việc trở thành siêu sao Hollywood đã đến hết sức tình cờ. Ông Luca Dotti (người con trai thứ 2 của Audrey) kể với ông Matzen rằng mẹ ông mỗi khi dạy con đều lấy những thứ bà đã trải qua trong chiến tranh, chứ không phải là sự nghiệp hào nhoáng, ngắn ngủi của bà ở Hollywood. Một số người quả quyết rằng (cả ông Matzen) vai diễn đưa Audrey đến Hollywood và biến bà thành siêu sao quốc tế đã được hình thành trực tiếp từ trải nghiệm thời chiến của bà.

18-3.jpg -0
Audrey Hepburn ngồi ở vùng đồi núi Sonsbeek tại Arnhem vào tháng 2 năm 1942. Ảnh nguồn: Robert Matzen / Audrey Hepburn Estate Collection.

Giải mật điện ảnh và cuộc đời cuối

Với bộ phim “Roman Holiday” công chiếu năm 1953, bộ phim Mỹ đầu tiên đã khiến Audrey Hepburn chiến thắng giải Oscar, nhà viết tiểu sử Robert Matzen giải thích: “Audrey xuất thân từ tầng lớp quý tộc, nên bà đã mang điều đó vào vai công chúa. Nhưng thời đó bà cũng là cô gái trẻ và theo một số cách là rất non nớt và chịu sự che chở, và việc bà ấy tập trung vào khiêu vũ mà đánh đổi sự phát triển thực sự của mình. Audrey thật sự rất đam mê khiêu vũ và sau đó là bị mắc kẹt trong căn hầm…

Thực tế này rất giống cảnh công chúa Ann trong phim khi nàng trốn khỏi cung điện và bắt đầu khám phá thành Rome. Ann là một đứa trẻ trong rừng giống như Audrey. Phẩm chất ngây thơ của Audrey đã thổi hồn cho vai công chúa Ann khiến màn trình diễn trở nên chân thực hơn, và cũng do Audrey chưa từng được đào tạo diễn xuất chính thức. Thực sự bà ấy đã hành động theo bản năng và mang kinh nghiệm sống của mình vào vai diễn”.

Trong sự nghiệp diễn xuất ngắn ngủi của mình, Audrey Hepburn đã hóa thân thành nhiều vai phụ nữ khác nhau, từ cô gái xinh đẹp Holly Golightly trong bộ phim Breakfast at Tiffany’s cho đến cô nàng loạn trí Eliza Doolittle trong phim My Fair Lady. Nhưng bà chưa từng làm phim truyền hình về Thế chiến II.

Đáng chú ý là bà còn miễn cưỡng từ chối ông Otto Frank (cha ruột của Anne Frank) người từng muốn gặp mặt Audrey hồi thập niên 1950 để đóng vai con gái của ông trên màn ảnh. Audrey liên quan quá nhiều đến Anne Frank (người đã bị sát hại trong trại tập trung ĐQX vì di sản Do Thái của mình) để có thể nhập vai Anne xuất sắc. Đó là câu chuyện mà Audrey đã bị ảnh hưởng rất sâu sắc từ trước khi đóng Roman Holiday. Ông Matzen giải thích: “Sau Thế chiến II, Audrey và mẹ chuyển tới Amsterdam để Audrey có thể tiếp tục đeo đuổi sự nghiệp khiêu vũ. Và rất tình cờ, họ được chuyển tới một căn hộ nơi có nhà biên tập phim đang làm việc với tập bản thảo “Nhật ký Anne Frank”.

Ông Matzen tiếp tục kể: “Nhà biên tập này lại biết về trải nghiệm chiến tranh của Audrey, tình yêu khiêu vũ của bà, và nói thẳng “Cô biết chăng? Cuốn nhật ký này sẽ thật sự khiến cô phải quan tâm đấy”. Vì thế Audrey đã đọc bản thảo trước khi nó được xuất bản. Anne Frank sinh ra sau Audrey chỉ 6 tuần. Anne Frank đến từ Frankfurt (Đức), còn Audrey đến từ Brussels (Bỉ). Họ đều là những cô gái Hà Lan, và trong thời chiến họ sống cách nhau 60 dặm ngay trên đất Hà Lan. Họ cùng chia sẻ cuộc sống dưới ách chiếm đóng và phập phồng lo bọn Đức hàng ngày.

Anne Frank ngừng viết nhật ký vào tháng 8 năm 1944… còn Audrey thì sống sót nhưng bà không dùng cụm từ “người sống sót tội lỗi”. Bà Audrey lịch sự từ chối lời đề nghị của ông Otto Frank, bà chưa từng nghĩ cách kiếm tiền từ câu chuyện đó. Phải nhiều năm sau đó khi đã là đại sứ thiện chí của UNICEF, bà Audrey mới tiết lộ chút ít về chuyện này.

Nhiệm vụ mới mà Audrey đảm nhiệm là đọc cuốn nhật ký Anne Frank tại các bữa dạ tiệc, cũng như đến những quốc gia bị chiến tranh tàn phá nhằm gia tăng nhận thức về trẻ em đói khát: một trải nghiệm ớn lạnh mà chính Audrey đã đối mặt trong những năm chiến tranh. Câu chuyện về Audrey Hepburn trong vai trò nhân đạo của UNICEF lúc cuối đời cũng là đề tài cho cuốn sách “Warrior” (Chiến binh) của ông Robert Matzen. Chính người con trai Luca Dotti đã thuyết phục ông Matzen viết về mẹ mình.

Những hình ảnh của Audrey Hepburn trong thời làm cho UNICEF là cảnh bà đang ôm trên tay những đứa trẻ chết đói. Tuy nhiên có những thứ bị ẩn đi làm thế nào bà đến được những nơi đó, hoặc các vùng chiến sự mà bà đã trốn tránh. Khi có ai đó hỏi tại lễ trao giải Oscar rằng làm thế nào Audrey có thể đi từ thế giới này sang thế giới khác, bà đáp: “Tôi không coi đó là hai thế giới khác biệt. Đó là tất cả cuộc đời tôi”.

Nguyễn Thanh Hải (Tổng hợp)

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.