Chiến lược nào cho sự phát triển giáo dục?

Đối với nhiều thế hệ học sinh Việt Nam, việc học chỉ nhằm đến mục tiêu duy nhất, được coi là thực tế nhất, đó là học (chỉ) để thi. Vô hình, áp lực thi cử đã khiến cả giáo viên lẫn học sinh quay cuồng trong cơn lốc nhồi nhét kiến thức và chỉ có kiến thức, không còn thời gian hay điều kiện để giúp học sinh phát triển thể chất, sáng tạo, sinh hoạt cộng đồng và vui chơi. Nó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng học thêm học nếm, lò luyện thi, ngoại khóa mọc lên nhan nhản, lấn át cả chương trình chính ở trường...

Khi học chỉ để thi

Nguyễn Hồng Lam

Từ năm 1994, một nhà khoa học giáo dục tên tuổi của Việt Nam, GSTS Nguyễn Hoàng Phương đã được  tổ chức Văn hóa giáo dục Liên hợp quốc đánh giá rất cao với công trình nghiên cứu được in thành sách dày hơn ngàn trang khổ lớn có nhan đề: “Tích hợp đa văn hóa Đông - Tây và một chiến lược giáo dục mới cho tương lai”. Chỉ riêng tên sách cũng đã gợi mở một triết lý đầy tính chiến lược cho nền giáo dục nước nhà, trong đó đáp ứng được nhu cầu tương lai về hội nhập và phát triển.

Đáng tiếc, sau hơn 20 năm, nền giáo dục, nhất là giáo dục phổ thông của chúng ta vẫn hầu như giẫm chân tại chỗ. Thay vì có những thay đổi toàn diện mang tính chiến lược, sách lược vì sự phát triển của tương lai, ngành Giáo dục nước nhà lại quay cuồng với hàng loạt những cải cách mang tính đối phó với  mục tiêu, chỉ tiêu hiện tại. Tác dụng thúc đẩy sự phát triển bền vững khó thấy, những cải cách ấy lại tạo nên một sự bất an khi nhiều thế hệ học sinh vô tình bị biến thành những thế hệ thí nghiệm, thử nghiệm mà kết quả đạt được thì không nhiều hứa hẹn tích cực.

Niềm vui của các sinh viên trong lễ tốt nghiệp.
Niềm vui của các sinh viên trong lễ tốt nghiệp.

Đối với nhiều thế hệ học sinh Việt Nam, việc học chỉ nhằm đến mục tiêu duy nhất, được coi là thực tế nhất, đó là học (chỉ) để thi. Vô hình, áp lực thi cử đã khiến cả giáo viên lẫn học sinh quay cuồng trong cơn lốc nhồi nhét kiến thức và chỉ có kiến thức, không còn thời gian hay điều kiện để giúp học sinh phát triển thể chất, sáng tạo, sinh hoạt cộng đồng và vui chơi. Nó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng học thêm học nếm, lò luyện thi, ngoại khóa mọc lên nhan nhản, lấn át cả chương trình chính ở trường. Nó biến nhà trường và đội ngũ giáo viên thành các “huấn luyện viên” kỹ năng thuần túy hơn là một nhà sư phạm đúng nghĩa, biến học sinh có nguy cơ thành những robot liên tục được nâng cấp, mở rộng dung lượng bộ nhớ, hơn là phát triển thành một con người toàn diện, hoàn thiện dần mọi mặt văn  - thể - mỹ.

Giáo dục theo mô hình này, sự khu biệt bậc học vô tình trở nên không rõ nét. Sau  chương trình cấp 3, học sinh xem trường đại học, nơi góp phần quyết định gần như quan trọng nhất trong tương lai mỗi cá nhân thành một trường cấp 4. Phần lớn học sinh chuyển từ bậc học phổ thông vào đại học đều bị choáng ngợp, phải mất nhiều tháng mới theo kịp và thích nghi với việc đào tạo. Vậy nhưng sau khi tốt nghiệp, ra đi làm, không ít người lại cho rằng 4 hoặc  5 năm đại học thật ra chỉ là một quãng thời  gian… lãng phí, kiến thức không áp dụng và phát huy được bao nhiêu.

Thi cử là mục tiêu, cho nên việc học cũng  chỉ nhằm vượt qua thi cử, không chú trọng nhiều việc nâng cao kiến thức. Tất yếu, học sinh sẽ quay sang học tủ, học thuộc, có kiến thức nhưng không  làm chủ kiến thức và rất hạn chế trong khả năng sáng tạo.

Học để thi, bằng cấp lên ngôi, xã hội trở nên lạm phát bằng cấp và thiếu vắng nhà chuyên môn. Khả năng phát triển và hội nhập bị hạn chế trầm trọng. Trong khi đó, nó lại kích hoạt cuộc chạy đua bằng cấp, kéo theo nó là hàng loạt vấn nạn tiêu cực  làm suy thoái cả nền giáo dục lẫn sức cạnh tranh phát triển của xã hội.

Áp lực thi cử cũng khiến nền giáo dục trở nên mất phương hướng và thiếu tự tin, tạo tiền đề cho một sự hỗn loạn khác. Thử hình dung kết quả sau một mùa thi đại học, nhiều học sinh giỏi đạt điểm số cao ngất ngưởng 26-27 điểm nhưng vẫn rớt đại học vì trót thi vào y khoa.

Trong khi đó, hàng loạt học sinh  top dưới, điểm chỉ 10 - 11 vẫn ung dung chờ giấy báo nhập học vào các trường đại học dân lập đang mọc lên nhan nhản. Bằng cấp của 4 hoặc 5 năm sau đó để một thế hệ công dân bước vào đời đang trở nên bị rẻ rúng. Việc học tập và đào tạo trở nên lãng phí cả về thời gian lẫn tiền bạc.

Khái niệm nôm na “vượt vũ môn” trong thực trạng giáo dục Việt Nam đang mất dần tính quan trọng và thiêng liêng của nó. Chỉ với việc thi cử, khó có thể đánh giá được đúng giá trị của công việc giáo dục xã hội và mức độ trưởng thành cá nhân. Một thế hệ học sinh, ngoài kiến thức sách vở xa thực tế vẫn thiếu và yếu toàn diện nhiều mặt khác: kỹ năng, nhân cách, nhận thức xã hội… thì khó có thể bảo đảm rằng tương lai sẽ thành công trong việc làm chủ xã hội.

Đó là chưa kể, khi thi cử từ điều kiện kiểm tra mức độ, khả năng kiến thức bị biến triệt để thành mục đích thì giáo dục đã gần như đánh rơi hẳn một mục đích quan trọng: giáo dục lòng tự  trọng, hình thành, khơi gợi những giá trị nhân văn trong mỗi con người. Lúc đó, sự phát triển của tương lai sẽ không thể tránh khỏi lệch lạc.

Nhìn từ thực trạng giáo dục, chúng ta đã có thể nhận rõ nguy cơ tụt hậu, nếu không có sự thay đổi ngay từ bây giờ. Thay đổi trước hết phải là không xem thi cử như mục đích cao nhất hoặc duy nhất của quá trình dạy và học.

TS. Mai Thanh Sơn (Giám đốc Trung tâm Nhân học – Tôn giáo, Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ): Điểm tựa cho giới trẻ tự tin bước vào đời

Từ xưa, cha ông ta đã nhận thức được rằng, cho dù trong khuôn khổ trường quy hay phạm vi cộng đồng thì giáo dục cũng luôn có mục tiêu tối thượng là “vị nhân sinh”. Thời phong kiến, học sinh theo đòi nghiên bút với mong muốn đỗ đạt làm quan, vừa mang trí trai giúp đời, vừa tự chuyển đổi vị thế xã hội. Những người không đủ điều kiện theo học trường lớp, sẽ được trao truyền các kỹ năng và đạo lý sống trong khuôn khổ cộng đồng gia đình/gia tộc và làng xã.

Ngày nay, chúng ta có thể phê phán xã hội cũ và lối học xưa ở điểm này, điểm khác nhưng không thể phủ nhận được những giá trị nhân sinh trong quan điểm giáo dục mà cha ông để lại. Cũng chính nhờ các giá trị đó, dân tộc đã có thể giữ lại cho hôm nay những gì được coi là “bản sắc”. Điểm đặc biệt cần lưu ý, việc tích lũy kiến thức/kỹ năng/đạo lý sống cho mỗi cá nhân xưa luôn đảm bảo tính nhất quán/liên tục/liên thông. Vì thế, mỗi người bước vào đời đều không bị “shock” và làm tròn vai công việc của mình.

Xét trong quan hệ điểm tựa và sự tương tác, môi trường giáo dục ngày nay đã khác xưa rất nhiều. Điểm tựa xã hội đáng kể nhất của cha ông chúng ta xưa chỉ là gia đình/gia tộc và thôn làng với các ngưỡng hành vi cũng như đức tin mang tính phổ quát của các cộng đồng tương đối khép kín. Giới trẻ ngày nay thì khác. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ nông nghiệp/nông thôn/nông dân sang công nghiệp hóa/đô thị hóa/toàn cầu hóa, cộng đồng thôn làng và thậm chí cả gia tộc cũng không còn nhiều ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và nhất là việc lựa chọn nghề nghiệp của mỗi người.

Với bài viết này, tôi không muốn bàn về vấn đề giáo dục nhân cách cho lớp trẻ, chỉ xin được đóng góp một vài ý kiến xung quanh câu hỏi: Vậy nhân tố nào là quan trọng nhất đối với việc định hướng nghề nghiệp hiện nay cho giới trẻ?

Hiển nhiên chúng ta không thể bỏ qua vai trò của gia đình với tư cách là tế bào cơ sở của xã hội, cũng là môi trường đầu tiên mỗi người được định hướng nghề nghiệp theo mong muốn của cha mẹ. Về cơ bản, các bậc cha mẹ thường có mấy xu hướng “khuyên răn” con cái: 1) lựa chọn nghề nghiệp theo “nếp nhà”, cha mẹ làm nghề gì, mong con cái theo nghề đó; 2) lựa chọn nghề nghiệp theo “mốt thời thượng”, ưu tiên các ngành kinh tế, ngân hàng, y dược, công nghệ thông tin…; 3) lựa chọn các ngành mà khi học ít tốn kém nhưng khi ra trường không phải vác đơn đi xin việc, chủ yếu là các trường thuộc lực lượng vũ trang; và 4) lựa chọn những ngành học có thể xin làm trong cơ quan nhà nước, vừa nhàn hạ, vừa có thể đảm bảo cuộc sống ổn định.

Ở một góc độ khác, không thể bỏ qua vai trò của mạng xã hội có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các bạn trẻ. Với một môi trường mở, ngay từ rất sớm con cái chúng ta đã “va đập” với không ít các tác động xã hội khác nhau. Việc định hướng nghề nghiệp vì thế cũng trở nên đa dạng hơn. Không ít bạn trẻ đã phá vỡ các “quy tắc gia đình” để tự định hướng cho mình. Và họ đã thành công.

Tuy nhiên, cho đến nay, không ai dám khẳng định rằng, những vấn đề liên quan đến việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai của lớp trẻ không còn là điều đáng lo ngại. Và chính ở điểm này, tôi nhận thấy có điểm trống mà nhà trường cần khỏa lấp: việc giáo dục hướng nghiệp hiện nay ở nhà trường còn chậm/muộn và bất cập so với nhu cầu của giới trẻ.

Chỉ đơn giản đưa ra các câu hỏi: với luật phổ cập giáo dục là THCS, việc hướng nghiệp cho các bạn trẻ chỉ được thực hiện trong cấp THPT liệu có phù hợp? Những học sinh không được theo học lên THPT sẽ lựa chọn nghề nghiệp tương lai của mình như thế nào? Các bạn có điều kiện tiếp tục theo học, liệu có được định hướng sớm để chuẩn bị cho các bước liên thông của mình? Và làm thế nào để chương trình giáo dục THPT có thể đảm bảo phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học, để họ có thể tự khám phá bản thân và lựa chọn nghề nghiệp phù hợp?

Với tư cách là một “điểm tựa”, ngành Giáo dục cần sớm có những giải pháp nhằm đảm bảo tính nhất quán/liên tục/liên thông trong giáo dục hướng nghiệp cho học sinh. Chỉ khi nào làm được điều đó, ngành mới có thể đạt mục tiêu tối thượng “vị nhân sinh” của mình.

TS Nguyễn Công Thảo (Viện Dân tộc học Việt Nam): Những con số biết nói…

Việt Nam hiện nay có xấp xỉ 9.000 giáo sư và phó giáo sư, 24.000 tiến sĩ và hơn 100.000 thạc sĩ. Con số này không ngừng gia tăng bởi chúng ta đã, đang và chắc chắn còn có thêm nhiều dự án, chương trình đạo tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Theo thống kê của Viện Thông tin khoa học (ISI), từ năm 1996 đến 2011, cả nước có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt. Điều đó có nghĩa mỗi năm chúng ta có khoảng 880 công trình xuất bản quốc tế và bình quân phải mất vài chục năm, mỗi tiến sĩ của ta mới sản xuất được một bài báo cho quốc tế.

Những con số thường khô cứng lắm, tương đối lắm, dễ gây tranh luận và phân trần lắm. Vì thế, để hiểu thêm cần so sánh chúng với những con số khác. Cũng nguồn thống kê trên, trong cùng khoảng thời gian ấy, số ấn phẩm khoa học của cả nước chưa bằng 1/5 số công bố của trường Đại học Tokyo (69.806 ấn phẩm) và một nửa của trường Đại học quốc gia Singapore (28.070 ấn phẩm). Nếu ai đó bảo rằng thật bất công khi so sánh một nước nghèo như Việt Nam với các nước giàu có như Nhật Bản và Singapore, thì xin hãy nhìn sang các nước láng giềng. Số công trình xuất bản của hơn 24.000 tiến sĩ của chúng ta chỉ bằng khoảng 1/5 của Thái Lan (69.637), 1/5 của Malaysia (75.530), và 1/10 của Singapore (126.881). Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần Singapore, 3 lần Malaysia và gần gấp rưỡi Thái Lan.

Nếu những con số kia vẫn chưa gợi lên cho bạn điều gì, xin kể thêm một câu chuyện có thật. Khoảng giữa năm 1998, tập san khoa học số 1 trên thế giới Science có một loạt bài điểm qua tình hình khoa học ở các nước châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á. Trong loạt bài này, ngạc nhiên thay (hay không đáng ngạc nhiên thay), không có đến một chữ nào nói về khoa học ở Việt Nam. Thậm chí, hai chữ “Việt Nam” cũng không được nhắc đến.

Năm 2002, Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020” với mục tiêu đến 2010, phải đáp ứng 40 -50% nhu cầu cơ khí cả nước, xuất khẩu đạt 30% giá trị sản lượng. Tuy nhiên, phần lớn các mục tiêu đề ra đều không đạt được. Thậm chí, có ngành còn tụt hậu hơn thời bao cấp. Về cơ bản, chúng ta xuất khẩu cho thế giới nguyên liệu thô, những mặt hàng đòi hỏi cơ bắp trong khi nhập về các sản phẩm mang hàm lượng chất xám cao.

Những con số trên không biết có đủ cho ta đưa ra liên tưởng gì đó về sự đóng góp của khoa học cho sự phát triển của nước nhà? Câu hỏi này có lẽ xin được gửi cho các nhà khoa học (trong đó có tôi).

Bà Nguyễn Thị Hương (Viện Nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh): Thách thức từ những tồn tại

Có rất nhiều yếu tố tồn tại cần phải được khắc phục trong quá trình dạy và học ở nước ta. Bộ Giáo dục - Đào tạo, ngành Giáo dục cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, đồng thời cũng đã đề ra hàng loạt phương pháp cải cách, thay đổi, đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục từ bậc phổ thông. Tuy nhiên, hầu hết những cải cách vẫn chưa đạt kết quả như mong đợi, chưa tạo ra được sự thay đổi tích cực và cần thiết đáp ứng được nhu cầu và sự kỳ vọng của xã hội. Chưa bàn sâu về các khía cạnh chuyên môn, chỉ nhìn thực trạng cũng có thể thấy nổi lên nhiều vấn đề.

Đối với phụ huynh và học sinh, chương trình học, thời gian biểu cho việc học  luôn là một áp lực quá tải. Học sinh ở tất cả các bậc phổ thông đều cảm thấy chương trình học  quá nặng, không còn chỗ cho học sinh rèn luyện, phát triển thể chất và vui chơi giải trí.  Hình ảnh học sinh ngủ gục tại lớp trong giờ giải lao đã trở nên phổ biến. Rõ ràng phương châm giúp học sinh  cảm thấy “mỗi ngày đến trường là một niềm vui” đã không đạt được.

Ngoài chương trình học kiến thức chính khóa, học sinh còn  bị vây bủa  bởi vô số giờ, tiết học thêm, phụ đạo, bồi dưỡng, ôn tập… để cố nhồi thật nhiều kiến thức, kỹ năng không ngoài mục đích duy nhất là vượt qua các kỳ thi, không còn thời gian cho các hoạt động ngoại khóa, giao lưu, vui chơi và nghỉ ngơi. Thực tế này tạo ra một áp lực căng thẳng rất lớn trong việc học, làm giảm hứng thú tiếp thu, hạn chế sự say mê và sáng tạo trong học tập của các em. Rõ ràng, giáo dục đang có một sự bất cân giữa giáo dục kiến thức với giáo dục thể chất và vui chơi giải trí nhằm tái tạo năng lượng tiếp thu và phát triển thể chất. Phần thụ hưởng trong giáo dục của học sinh xem như đã bị loại trừ.

Lấy học sinh làm trung tâm, nhưng quy trình giáo dục dường như vẫn đang chạy theo chỉ tiêu của nhà trường và của giáo viên, hơn là chú trọng vào mục đích phát triển toàn diện cho học sinh. Với chương trình học kiến thức quá nặng hiện tại, học sinh vẫn phải học khá nhiều những kiến thức không – hoặc chưa cần thiết, không sát thực tế. Trong khi đó, những tri thức thức, kỹ năng sát sườn lại gần như bị bỏ quên, nếu không nói là bị loại bỏ khỏi chương trình giáo dục. Kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng thích nghi và bảo vệ môi trường, kỹ năng tự bảo vệ mình, nhận biết đúng sai, phải trái, tốt xấu, đồng cảm, chia sẻ và bảo vệ  người xung quanh, bảo vệ lẽ phải…., học sinh bị thả nổi, vừa thiếu vừa yếu.

Việc học tập, học sinh được tiếp nhận một cách thụ động và lệ thuộc. Gần như năm nào cũng thế, học sinh và phụ huynh cứ  nơm nớp ngóng tin, chờ đợi, dò đoán tình hình thi cử, thi môn nào, bỏ môn nào, thi hình thức gì… để từ đó có định hướng mang tính chất đối phó, thay vì xem việc học  như một nhu cầu tự nhiên, thi cử chỉ như một thao tác kiểm tra đánh giá. Hệ quả của một nền giáo dục như thế tất yếu sẽ dẫn đến một sự phát triển  lệch lạc, phiến diện, khó có thể  giúp các em trở thành những con người tự tin, đủ năng lực  đáp ứng được các nhu cầu, đòi hỏi của xã hội trong tương lai.

Ngay cả nhận thức về phương châm “lấy học sinh làm trung tâm” cũng đang bị hiểu không đầy đủ và có nhiều điểm sai. Hậu quả là vị thế, cái uy, vai trò của giáo viên đang bị xem nhẹ, khó có thể thật sự giúp đội ngũ thầy cô giáo trở thành “tấm gương” cho học sinh noi theo. Bình đẳng thái quá trong quan hệ giáo viên  - học sinh trong nhiều thế hệ đã tạo nên sự bất an, mặc cảm nơi người thầy, đồng thời làm giảm giá trị, vai trò của họ trong hoạt động giáo dục và trong tâm hồn, tình cảm  nhiều thế hệ học trò. Đó cũng là một nguồn gốc dẫn đến sự tha hóa đạo đức xã hội trong tương lai.

Bên cạnh việc truyền thụ kiến thức, thầy cô giáo hiện cũng đang phải gánh nhiều trách nhiệm, thủ tục rườm rà, không cần thiết khác, đa phần mang tính hình thức như giáo án, sổ sách, dự  giờ, tập huấn, bồi dưỡng chính trị, công tác đoàn thể…v.v. Lẽ dĩ nhiên những việc này đều cần thiết, nhưng  cách  thức quản lý và thực hiện như hiện tại thì  rõ là đã cũ kỹ, chỉ tạo thêm gánh nặng khiến người thầy  luôn có cảm giác bị quản lý, ràng buộc, bị buộc phải theo khuôn mẫu làm giảm hứng thú, nhiệt tình hơn là kích thích  tăng cường khả năng sáng tạo, gắn bó với nghề trồng người của họ.

Tất cả những điểm bất cập này chỉ có thể thay đổi khi thật sự chúng ta có một ngành Giáo dục không chạy theo chỉ tiêu, chúng ta thật sự quan tâm đến sự phát triển đầy đủ, toàn diện của đội ngũ học sinh – những chủ nhân tương lai của xã hội.

PV

Các tin khác

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Đúng đắn nhưng cần hiệu quả

Tin vui cho những nghệ sĩ âm nhạc dân tộc Việt Nam là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt đề án xây dựng Dàn nhạc Dân tộc Quốc gia Việt Nam vào ngày 22/4/2026 với quyết tâm triển khai ngay trong năm nay và dự kiến tổng kết vào năm 2031. Đây là một quyết định đúng đắn (dù hơi muộn) và cho thấy rõ chủ trương đầu tư cho phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện tại.

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Tạo sức bật cho văn nghệ sĩ sáng tạo

Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đẩy mạnh việc quảng bá, giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu thuộc các loại hình ca múa nhạc, kịch nói, cải lương, hát bội, xiếc, múa rối.

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Hiện hữu như “cái gì đó” và “không gì cả”

Nỗi sợ lớn nhất của tôi là gì? Là không gì cả. Phần lớn thời gian của tôi được dành để nỗ lực chứng minh rằng mình đáng được nhớ đến. Làm việc chăm chỉ hơn, mơ lớn hơn, nói “có” với những cơ hội - kể cả khi chúng vắt kiệt mình.

Kiến tạo văn hóa số

Kiến tạo văn hóa số

Người viết cho rằng: AI tạo sinh có thể cắt ghép, được dựng nên những hiện thực chưa từng có theo ý muốn của chúng ta. Giờ đây, thay vì nheo mặt để nhận diện tem mác, dấu hiệu hàng fake trên hàng hóa thì đến lúc đắn đo trước những tác phẩm: Liệu bài thơ này, bản nhạc kia, bức tranh nọ... có dấu hiệu can thiệp của AI hay không? Chúng ta sống với AI hay chúng ta sống bằng AI? Một câu hỏi khó trả lời.

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Sự hỗn loạn sắp chấm dứt?

Trong tháng 3/2026 vừa qua, số lượng các bản ghi âm bị từ chối phát hành qua nền tảng Tunecore của Công ty Believe đột nhiên tăng vọt. Và, tất cả những bản phát hành bị từ chối ấy đều có một điểm chung: đó là những bản nhạc được tạo ra bởi AI.

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Cơ hội mới cho hoạt động sáng tạo văn hóa

Chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân đã thành công tốt đẹp vào ngày 17/4, song báo chí trong và ngoài nước vẫn tiếp tục có nhiều bài viết đặc sắc, khẳng định quan hệ truyền thống gắn bó mật thiết giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc cũng như tầm nhìn, định hướng trong việc nâng tầm kết nối chiến lược giai đoạn phát triển mới.

Mệnh lệnh của niềm tin

Mệnh lệnh của niềm tin

Hôm nay, cũng như mọi ngày, tôi dậy rất sớm, ngồi bên ly cà phê và lướt nhanh trên màn hình smartphone. Có lẽ, giờ này nhiều người cũng giống tôi tìm sự khởi đầu cho ngày mới bằng việc nhật tin tức sau một đêm - nguồn năng lượng mới từ sự trong trẻo tinh khôi của thiên nhiên và sự hào hứng của tinh thần.

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Văn hóa là động lực tăng trưởng mới

Tin vui cho giới làm phim Việt là tính đến trưa 10/4, theo thống kê của Box Office Vietnam (BOVN - trang web độc lập chuyên tổng hợp, phân tích và thống kê dữ liệu doanh thu phòng vé, số lượng vé và suất chiếu trên toàn lãnh thổ Việt Nam), phim "Hẹn em ngày nhật thực" của đạo diễn Lê Thiện Viễn đã thu về hơn 81 tỉ đồng sau khi bắt đầu công chiếu từ cuối tháng 3 và vẫn đang giữ vững vị trí đầu bảng xếp hạng doanh thu phòng vé Việt (tính theo ngày).

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Luật hóa để bảo vệ "tài năng nhí"

Chuyện ồn ào trên mạng xã hội liên quan đến nữ ca sĩ Thiện Nhân và gia đình của cô chắc chắn là một chuyện không vui chút nào, đặc biệt là khi soi chiếu bằng các giá trị văn hóa Á Đông vốn coi trọng nền tảng tình cảm gia đình, quyến thuộc hơn là tài sản.

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

“GATO” - gieo mầm xấu độc!

Gần đây trong tiếng Việt có từ mới “GATO” nhanh chóng trở nên phổ biến. Viết tắt của “ghen ăn tức ở”, dịch sang tiếng Tây, tương đương từ “đố kỵ” - một trạng thái cảm xúc tiêu cực, khó chịu, ghen ghét, cay cú trước thành công, danh tiếng người khác.

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Văn học Việt Nam trong kỷ nguyên dịch chuyển

Trong bối cảnh văn hóa đọc Việt Nam đang chứng kiến những chuyển động chưa từng có, một hiện tượng nổi bật là sự trỗi dậy mạnh mẽ của sách ngoại văn, đặc biệt là qua các hiệu sách độc lập (indie) có giám tuyển. Không chỉ phản ánh nhu cầu cập nhật tri thức toàn cầu của lớp độc giả trẻ, hiện tượng này còn đặt ra những câu hỏi mang tính chiến lược về con đường đưa văn chương Việt Nam ra thế giới.

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Tôn vinh những giá trị văn hóa đích thực

Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh ban hành văn bản chấn chỉnh hoạt động biểu diễn, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chấm dứt tình trạng hát nhép trên sân khấu. Việc này đã nhận được sự đồng thuận cao, không chỉ từ phía những nhà quản lý văn hóa mà cả với những người trực tiếp hoạt động biểu diễn, doanh nghiệp tổ chức biểu diễn.

AI - Tìm đâu ra người thật?

AI - Tìm đâu ra người thật?

Trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang thay đổi cách sách đi từ tay tác giả đến bạn đọc từ khâu sáng tác và biên tập đến in ấn và marketing. Không phải ai cũng hoan nghênh sự thay đổi này, và quả thực là ngoài một số lợi ích nhất định, việc sử dụng AI tràn lan cũng đem lại nhiều vấn đề làm đau đầu các nhà xuất bản, đơn cử như việc con người để cho AI thay thế tác giả và biên dịch viên.

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Đàm Khánh Phương: “Không bao giờ thơ chịu nước bán rao”

Trong đám tang nhà thơ Đàm Khánh Phương tại nhà tang lễ Đức Giang hôm ấy, ngoài nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - có mặt và sau đó đọc điếu văn - tôi thấy không nhiều các nhà văn, nhà thơ khác đến đưa tiễn. Phương ít bạn, hay là khi khỏe mạnh, Phương đã có những điều làm bạn bè khó cảm thông?  

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Hầm trú ẩn của nhà thơ trong thời đại AI

Năm 2001, đạo diễn Steven Spielberg ra mắt bộ phim “A.I. - Artificial Intelligence”, kể về cậu bé robot David được lập trình để yêu thương vô điều kiện. Khi người mẹ nuôi bỏ rơi cậu giữa rừng, David bắt đầu hành trình 2000 năm đi tìm một ngày được sống bên bà. Khi những sinh vật tiến hóa đánh thức cậu giữa tàn tích băng giá, điều David xin không phải tri thức hay quyền năng, mà chỉ là một ngày được yêu thương.

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Bảo đảm quyền thụ hưởng văn hóa

Động viên đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo luôn là một trong những chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Văn hóa soi đường quy hoạch

Văn hóa soi đường quy hoạch

Gần đây, có hai sự việc nhận được khá nhiều sự quan tâm của dư luận, và vẻ bề ngoài, hai sự việc ấy không hoàn toàn liên quan tới nhau nhưng sâu trong bản chất, chúng lại có một điểm chung.

Sống để kết nối yêu thương

Sống để kết nối yêu thương

Sống là để kết nối những yêu thương, bởi cuộc sống có biết bao nhiêu điều đáng yêu mà chúng ta không thể kể tên hết được. Đó là một cảm nhận của người viết có được mỗi khi quan sát và lắng nghe từng thanh âm của cuộc đời. Dẫu biết hằng ngày vẫn xuất hiện cái ác, cái xấu nhưng còn có biết bao người tốt, bao hành động cao cả.

“Cái chết” của sách bìa mềm

“Cái chết” của sách bìa mềm

Cuộc cách mạng văn học hiện đại có sự đóng góp không hề nhỏ của sách bìa mềm. Những quyển sách bìa mềm được bày bán khắp mọi nơi với giá cả phải chăng đã đưa văn học đến với tất cả mọi thành phần trong xã hội.

Quyết liệt phát triển văn hóa

Quyết liệt phát triển văn hóa

Diễn biến mới nhất của việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, do Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành ngày 7/1/2026, đó là Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam đã có cuộc họp đầu tiên, trong tuần qua, với nhiều nội dung quan trọng.