Ghi danh vào lịch sử
Làm người, đa số dân chúng chỉ mong muốn có được cuộc sống bình yên, vợ chồng con cái hòa thuận, đời sống kinh tế no đủ, khá giả. Nhưng còn có những người muốn nổi tiếng, lưu danh. Những người này thường là trí thức hoặc có thanh thế trong xã hội. Một người tiêu biểu cho chí làm trai của xã hội phong kiến là ông quan - nhà thơ Nguyễn Công Trứ đã tuyên ngôn về lẽ sống của mình: "Làm trai đứng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông". Đó là một thái độ sống tích cực. Muốn ghi danh có nhiều cách. Ngày xưa, người ta phân loại ghi danh theo thứ tự: Lập công, lập đức, lập ngôn. Lập ngôn trong đó có sáng tạo văn chương được xếp thấp hơn cả: "Lập thân tối hạ thị văn chương". Tất nhiên, quan niệm ấy còn phải bàn. Nhưng rõ ràng ghi danh vào lịch sử là khát vọng của nhiều người. Đó là động lực thúc đẩy xã hội phát triển, vì nó kích thích sự cống hiến, sự đóng góp của mọi người cho xã hội.
Chàng trai Paven Coócsaghin trong tiểu thuyết "Thép đã tôi thế đấy" của Ôxtrốpxki, mẫu người Xôviết một thời cũng phát biểu suy nghĩ về lẽ sống có sức rung động: "Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí. Để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời...".
Không có gì phải bàn nếu mọi người có đức độ, tài năng đàng hoàng ghi danh vào lịch sử. Đó là những nhân vật có công trạng to lớn đối với xã hội. Đó là những người có đức độ nổi tiếng được quần chúng tôn vinh. Đó là những tài năng xuất sắc để lại những tác phẩm bất hủ cho hậu thế... Tuy nhiên, trong xã hội, hai xu hướng thuận và nghịch luôn song hành. Bên cạnh những người xứng đáng được ghi danh vào lịch sử, thì còn có những người đạo đức và năng lực yếu kém cũng muốn ghi danh. Tất nhiên là họ phải đi tắt, láu cá, ngụy tạo. Nhưng ngụy tạo thế nào được với lịch sử, với trí tuệ ngàn vạn con mắt của nhân dân.
Cách đây một thế kỷ, danh sĩ Chu Mạnh Trinh với tài năng văn chương của mình đã được nhân dân ở nhiều địa phương dọc đê sông Hồng mời ông đề thơ ở nhiều đền thờ, đến nay vẫn được nhiều người chiêm ngưỡng. Nhưng ngày nay, có những người cậy nhiều tiền đã tìm mọi cách đề thơ ở nhiều chùa chiền, đền đài, danh lam thắng cảnh... những vần thơ tầm thường nhạt như nước ốc để khoe với mọi người, khoe với hậu thế. Như thế có phải là một cách ứng xử văn hóa? Thật là phản cảm trước những danh thắng phải "gánh" những vần thơ như thế. Tôi bỗng nhớ nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã mắng những kẻ vô văn hóa ấy từ cách đây mấy trăm năm: "Này này, chị bảo cho mà biết/ Muốn sống đem vôi quét trả đền!". Thi sĩ Tản Đà ở đầu thế kỷ trước cũng đã chế diễu một ông quan huyện trọc phú muốn lưu danh: "Năm trước lên đây đục mấy vần/ Năm nay lại đến đục hai chân/ Khen cho đá cũng bền gan thật/ Đã để cho ông đục mấy lần".
Tài năng đến như thi tiên Lý Bạch, trước danh thắng Lầu Hoàng Hạc, mà ông đã phải thốt lên: "Nhãn tiền hữu cảnh họa bất đắc/ Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu" (Trước mắt có cảnh đẹp mà không làm thơ được/ Vì Thôi Hiệu đề thơ ở trên đầu mất rồi). Đó là thái độ đẹp của một người tự biết. Ngay cả Nữ hoàng Võ Tắc Thiên, với tấm bia không chữ của bà cũng ghi danh vào lịch sử Trung Hoa, khi quần thần muốn dựng bia ca ngợi công tích của bà nhưng bà đã từ chối bảo rằng để bia trắng cho đời sau đánh giá. Gian lận thế nào được với lịch sử. Thơ mà hay thì không cần khắc vào bia đá, thì rồi mọi người đời sau cũng tìm ra mà vinh danh. Còn thơ dở mà khắc vào bia đá thì chỉ làm trò cười cho thiên hạ, tốn công người đời sau xóa bỏ đi.
Quyền lực thơ ca?
Sáng ngày 15/7/2012, nhà thơ Hải Như từ Tp HCM gọi điện cho tôi trao đổi về quyền lực của thơ ca. Thú thực là tôi bối rối. Thơ ca có quyền lực gì? Bây giờ có phải là thời của thơ ca nữa không?
Cách đây hơn một năm, tôi có viết trên Báo Văn nghệ Công an đề cập đến "quyền năng của nghệ thuật", bàn đến sức sống và giá trị chi phối của nghệ thuật nói chung, cái quyền làm cho con người phải thao thức, phải trăn trở, ham muốn sống tốt đẹp hơn, đó là "cái đẹp cứu rỗi thế giới"... Còn quyền lực của nghệ thuật nói chung, quyền lực của thi ca nói riêng thì thật khó phân định!
Theo tôi, thơ ca tự nó không có quyền lực gì. Nhà thơ Hải Như muốn nói đến sức mạnh của thơ ca chăng? Sức mạnh của thơ ca thì không phải khi nào cũng có. Nó phải tùy thời và tùy thơ nữa. Nói tùy thời, tức là khi một lực lượng xã hội muốn sử dụng thơ ca để tạo nên sức mạnh phục vụ cho mục đích của mình. Ở phương Đông và ở Việt
Ngày nay, một số người muốn phủ nhận giá trị thơ ca hai cuộc kháng chiến với ý đồ không trong sáng. Lịch sử dân tộc, trong đó thơ ca đã góp phần tạo nên chiến thắng là không thể phủ nhận. Vâng, có thể thơ ca thời ấy giá trị nghệ thuật chưa điêu luyện, chưa trác tuyệt. Nhưng mà "Cao hơn trang thơ, hơn cả cuộc đời/ Là Tổ quốc đang một còn một mất". Cậu bé Trần Đăng Khoa khi ấy mới hơn mười tuổi đã cho chúng ta thấy mọi thứ nghệ thuật phải phục vụ công cuộc cứu nước. Vậy mà có người hôm nay cố tình xuyên tạc thì thật lạ lùng. Phải đặt thơ ca trong hoàn cảnh cụ thể mà nó ra đời. Thơ Mới 1930-1945 đã hoàn thành sứ mệnh thể hiện nỗi buồn đau của người dân mất nước, là chuẩn bị cho bão táp cách mạng sắp nổi lên!
Còn thơ ca Việt
Những tập thơ như thế có đại diện cho thơ Việt