Trong văn bản khẩn gửi các sở, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị liên quan vào ngày 17/6 vừa qua, ông Lê Ngọc Linh, Phó Giám đốc Sở Xây dựng đã đề nghị các cơ quan, đơn vị góp ý để hoàn chỉnh đề cương lập Đề án trên trước ngày 30/6. Trong đó, Sở Xây dựng xác định, việc lập "Đề án chống ngập và xử lý nước thải giai đoạn 2026 - 2060, kế hoạch 2026 - 2036" không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu đồng bộ hóa quy hoạch mà còn là một hành động cấp bách xuất phát từ những rủi ro của hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện hữu.
Cộng hưởng của các rủi ro thiên tai và sự biến đổi của điều kiện tự nhiên đang làm vô hiệu hóa hệ thống hạ tầng thoát nước hiện hữu của thành phố. Biến đổi khí hậu khiến tần suất và cường độ của các trận mưa cực đoan gia tăng đáng kể. Nước biển dâng khiến mực nước nền tại các cửa sông, kênh rạch luôn ở mức cao, làm thu hẹp nghiêm trọng thời gian thoát nước tự chảy của hệ thống cống đô thị.
Đáng chú ý, đỉnh triều cường liên tục phá kỷ lục, đạt mức trên 1,8 m tại trạm Phú An và Nhà Bè. Mực nước triều cường này không chỉ vượt xa cao độ thiết kế của nhiều tuyến đê bao mà còn gây hiện tượng chảy ngược, làm ngập các cửa xả. Mưa lớn kết hợp với triều cường dâng cao và hiện tượng sụt lún nền đất đã và đang diễn ra khiến cho các điểm ngập đô thị ngày càng lan rộng, đe dọa trực tiếp đến an sinh xã hội và môi trường đầu tư.
Đối với vấn đề thoát nước đô thị, tình trạng quá tải nghiêm trọng của hệ thống hạ tầng thu gom, xử lý nước thải đã đe dọa trực tiếp đến an ninh nguồn nước của toàn vùng. Sự phát triển nhanh về sản xuất công nghiệp tại khu vực Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu và mật độ dân cư lớn tại trung tâm TP Hồ Chí Minh (cũ) đã vượt qua khả năng đáp ứng của hạ tầng. Thống kê hiện trạng cho thấy, tổng lưu lượng nước thải sinh hoạt của toàn vùng “siêu” đô thị TP Hồ Chí Minh đã lên tới 1,97 triệu m3/ngày đêm. Tuy nhiên, lưu lượng nước thải thực tế được thu gom và xử lý đạt chuẩn chỉ ở mức 0,34 triệu m3, tương ứng với tỷ lệ 17%. Trong đó khu vực TP Hồ Chí Minh (cũ) có tỷ lệ xử lý nước thải sinh hoạt là 16,4%, khu vực Bình Dương đạt 30,4%, Bà Rịa - Vũng Tàu chỉ đạt 9,2% và đều ở mức báo động. Thực trạng trên đã khiến hàng triệu m3 nước thải chưa qua xử lý đang ngày đêm xả trực tiếp ra lưu vực hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai và vùng ven biển.
Từ thực trạng trên, Sở Xây dựng cho rằng nếu không có một chiến lược đầu tư liên vùng quy mô lớn để nâng cao năng lực xử lý, ô nhiễm nguồn nước sẽ trở thành nút thắt cản trở định hướng phát triển bền vững của TP Hồ Chí Minh. Sở Xây dựng cũng chỉ ra sự bất cập, giới hạn và tính chất lạc hậu của các quy hoạch, đề án chống ngập, lụt triển khai trong giai đoạn trước đang áp dụng cho không gian của một "siêu” đô thị mới. Hệ thống hạ tầng thoát nước hiện nay chủ yếu được định hướng bởi Quy hoạch tổng thể thoát nước được phê duyệt năm 2001 và Quy hoạch thủy lợi chống ngập úng được phê duyệt năm 2008. Đến nay các quy hoạch này đã hết hạn, bộc lộ nhiều hạn chế về thông số thiết kế và hoàn toàn không cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu khắc nghiệt hiện tại.
Trong khi đó, Đề án "Chống ngập và xử lý nước thải giai đoạn 2020 - 2045" do UBND thành phố ban hành năm 2021 chỉ có phạm vi nghiên cứu giới hạn trong ranh giới hành chính của TP Hồ Chí Minh trước sáp nhập. Khi thành phố mở rộng không gian, địa hình trở nên đa dạng hơn, trải dài từ vùng gò đồi phía Bắc (Bình Dương) qua vùng trũng thấp trung tâm đến khu vực cửa sông ven biển (Bà Rịa - Vũng Tàu). Các giới hạn hành chính cũ khiến hạ tầng bị phân mảnh thành các "ốc đảo" thiếu tính kết nối. Vì vậy yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải xóa bỏ ranh giới hành chính trong công tác chống ngập, chuyển sang phương thức quản lý tích hợp theo lưu vực thủy văn.
Từ thực trạng trên, Đề án hướng tới mục tiêu đánh giá toàn diện hiện trạng ngập, thoát nước, kiểm soát triều, thu gom và xử lý nước thải trên toàn địa bàn TP Hồ Chí Minh. Đồng thời xác định các khu vực rủi ro cao, các điểm ngập trọng yếu và các tồn tại, hạn chế chủ yếu của hệ thống hiện hữu. Rà soát, đối chiếu và hoàn thiện cơ sở pháp lý, quy hoạch và cơ sở kỹ thuật có liên quan cũng như đánh giá tính kế thừa của các đề án, chương trình, quy hoạch đã có, làm cơ sở đề xuất định hướng phù hợp với bối cảnh thành phố sau sáp nhập. Từ đó xây dựng mục tiêu, chỉ tiêu, định hướng chiến lược và hệ thống giải pháp đồng bộ, bao gồm cả giải pháp công trình và phi công trình, có xét đến biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún đất và yêu cầu phát triển bền vững theo từng lưu vực, khu vực. Đề xuất ra danh mục dự án ưu tiên, mô hình tổ chức thực hiện, cơ chế phối hợp, cơ chế tài chính và lộ trình triển khai.
Để bảo đảm hiệu quả và tính định hướng lâu dài, Sở Xây dựng cho rằng việc lập Đề án cần tích hợp, giữa chống ngập - thoát nước - xử lý nước thải - quản lý nước đô thị - bảo vệ môi trường - thích ứng với biến đổi khí hậu, tránh tiếp cận tách rời từng lĩnh vực hoặc từng công trình riêng lẻ. Hệ thống chống ngập, thoát nước và xử lý nước thải cần được nhìn nhận như một cấu phần hữu cơ của hạ tầng đô thị, có mối quan hệ chặt chẽ với quy hoạch sử dụng đất, không gian nước, giao thông, môi trường và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Ngoài ra, với địa hình thành phố mở rộng sau sáp nhập và có cấu trúc thủy văn liên vùng rõ nét, Đề án cần nghiên cứu và đề xuất giải pháp theo lưu vực, khu vực thoát nước, thay vì chỉ theo đơn vị hành chính. Việc này giúp nhận diện đúng hướng dòng chảy, quan hệ thượng nguồn - hạ lưu - cửa biển, các nút thắt thủy lực và các khu vực chịu tác động lan truyền, từ đó bảo đảm hiệu quả đầu tư và vận hành của toàn hệ thống.
Hệ thống mới cần kết hợp đồng bộ giữa giải pháp công trình và giải pháp phi công trình. Trong đó công trình hạ tầng giữ vai trò nền tảng nhưng không phải là giải pháp duy nhất. Hệ thống cống, đê bao, trạm bơm, cống ngăn triều và nhà máy xử lý nước thải được kết hợp với giải pháp dựa vào thiên nhiên như hồ điều hòa, không gian trữ nước, bề mặt thấm, phục hồi kênh rạch, vùng trũng sinh thái và cảnh quan mặt nước đô thị. Giải pháp này giúp tăng khả năng điều tiết nước, giảm áp lực cho hệ thống cống, nâng cao chất lượng môi trường và tăng sức chống chịu của đô thị trước các điều kiện cực đoan.
Để quy hoạch trên thực sự hiệu quả, Sở Xây dựng nêu rõ, trước mắt cần rà soát, tổng hợp đầy đủ danh mục các điểm ngập trên toàn địa bàn, phân loại theo nguyên nhân ngập do mưa, do triều và do mưa kết hợp triều. Cập nhật và chuẩn hóa thông tin kỹ thuật của từng điểm ngập, bao gồm vị trí, tọa độ, loại ngập, độ sâu ngập, thời gian ngập, tần suất xuất hiện, diện tích ảnh hưởng, nguyên nhân chính, biện pháp đang áp dụng và đơn vị quản lý. Đánh giá mức độ ảnh hưởng và thiệt hại kinh tế - xã hội do ngập gây ra đối với giao thông, dân sinh, sản xuất - kinh doanh, môi trường, sức khỏe cộng đồng và hoạt động đô thị. Đánh giá hiện trạng quy mô, năng lực và mức độ đồng bộ của hệ thống thoát nước, gồm cống, cửa xả, hố ga, kênh rạch, hồ điều hòa, hồ điều tiết, cống kiểm soát triều, van ngăn triều, trạm bơm và các công trình điều tiết có liên quan...