Cái cao nhã bị bức tử

Văn chương Nhật Bản, dường như ở thời nào cũng vậy, luôn biết cách sản sinh những văn gia đặc dị. Đặc dị từ số phận cuộc đời đến tác phẩm. Đặc dị trong cách chất vấn đời sống và trong sự lao hết mình đến tuyệt đích của một sắc thái biểu cảm. Tuyệt đích chán chường khi cái cao nhã bị bức tử, đó là điều ta sẽ bắt gặp ở Dazai Osamu (1909 - 1948), một trong những tác giả tiêu biểu của văn xuôi Nhật Bản thời kỳ vừa chấm dứt Đại chiến thế giới lần thứ II, trên nền cảnh của một xã hội Nhật điêu tàn và sự vỡ mộng cay đắng của niềm tự tôn dân tộc chủ nghĩa mang tên Nippon. (Chuyện của thời quá khứ. Nhưng, cái cao nhã đang bị bức tử, điều đó há không phải cũng chính là căn bệnh của thời chúng ta đang sống hay sao?).

Văn nghiệp của Dazai Osamu không đồ sộ như nhiều nhà văn Nhật Bản khác, nhưng may mắn thay, lại có những tác phẩm để đời. Tà dương (Hoàng Long dịch, Phương Nam Book và NXB Hội nhà văn, 2012), cuốn tiểu thuyết được xuất bản năm 1947 - một năm trước khi ông tự sát - là tác phẩm được giới nghiên cứu văn học cả trong và ngoài Nhật Bản đánh giá rất cao. Chính từ cuốn tiểu thuyết này mà trong từ điển tiếng Nhật đã xuất hiện thêm một từ, bây giờ vẫn lưu hành: “Tà dương tộc” - dùng để chỉ sự sa sút của giai cấp thượng lưu vì một biến chuyển gấp gáp của xã hội.

Tà dương, thứ ánh sáng heo hắt trong khoảnh khắc suy tàn của một ngày để rồi bóng tối ập xuống ngay sau đó, là hình ảnh biểu đạt chính xác tình cảnh của gia đình tiểu thư Kazuko, nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” trong tiểu thuyết, cũng là tình cảnh xuống dốc nhanh dần đều của tầng lớp quý tộc Nhật Bản ngay sau khi nước Nhật thất trận. Gia đình Kazuko gồm ba người: bà mẹ, Kazuko, và cậu em trai Naoji. Ba nhân vật tiểu thuyết, ba số phận cuộc đời nhuốm màu của tà dương theo những cách khác nhau, nhưng đều để lại dư vị đắng chát trong người đọc khi cuốn sách đã gấp lại. Và cả sự suy tư trước một câu hỏi đã từng khiến hoàng tử Hamlet phải trăn trở: “Sống hay không sống?”.

Văn nghiệp của Dazai Osamu không đồ sộ như nhiều nhà văn Nhật Bản khác, nhưng may mắn thay, lại có những tác phẩm để đời. Tà dương (Hoàng Long dịch, Phương Nam Book và NXB Hội nhà văn, 2012), cuốn tiểu thuyết được xuất bản năm 1947 - một năm trước khi ông tự sát - là tác phẩm được giới nghiên cứu văn học cả trong và ngoài Nhật Bản đánh giá rất cao. Chính từ cuốn tiểu thuyết này mà trong từ điển tiếng Nhật đã xuất hiện thêm một từ, bây giờ vẫn lưu hành: “Tà dương tộc” - dùng để chỉ sự sa sút của giai cấp thượng lưu vì một biến chuyển gấp gáp của xã hội.

Tà dương, thứ ánh sáng heo hắt trong khoảnh khắc suy tàn của một ngày để rồi bóng tối ập xuống ngay sau đó, là hình ảnh biểu đạt chính xác tình cảnh của gia đình tiểu thư Kazuko, nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” trong tiểu thuyết, cũng là tình cảnh xuống dốc nhanh dần đều của tầng lớp quý tộc Nhật Bản ngay sau khi nước Nhật thất trận. Gia đình Kazuko gồm ba người: bà mẹ, Kazuko, và cậu em trai Naoji. Ba nhân vật tiểu thuyết, ba số phận cuộc đời nhuốm màu của tà dương theo những cách khác nhau, nhưng đều để lại dư vị đắng chát trong người đọc khi cuốn sách đã gấp lại. Và cả sự suy tư trước một câu hỏi đã từng khiến hoàng tử Hamlet phải trăn trở: “Sống hay không sống?”.

Văn nghiệp của Dazai Osamu không đồ sộ như nhiều nhà văn Nhật Bản khác, nhưng may mắn thay, lại có những tác phẩm để đời. Tà dương (Hoàng Long dịch, Phương Nam Book và NXB Hội nhà văn, 2012), cuốn tiểu thuyết được xuất bản năm 1947 - một năm trước khi ông tự sát - là tác phẩm được giới nghiên cứu văn học cả trong và ngoài Nhật Bản đánh giá rất cao. Chính từ cuốn tiểu thuyết này mà trong từ điển tiếng Nhật đã xuất hiện thêm một từ, bây giờ vẫn lưu hành: “Tà dương tộc” - dùng để chỉ sự sa sút của giai cấp thượng lưu vì một biến chuyển gấp gáp của xã hội.

Tà dương, thứ ánh sáng heo hắt trong khoảnh khắc suy tàn của một ngày để rồi bóng tối ập xuống ngay sau đó, là hình ảnh biểu đạt chính xác tình cảnh của gia đình tiểu thư Kazuko, nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” trong tiểu thuyết, cũng là tình cảnh xuống dốc nhanh dần đều của tầng lớp quý tộc Nhật Bản ngay sau khi nước Nhật thất trận. Gia đình Kazuko gồm ba người: bà mẹ, Kazuko, và cậu em trai Naoji. Ba nhân vật tiểu thuyết, ba số phận cuộc đời nhuốm màu của tà dương theo những cách khác nhau, nhưng đều để lại dư vị đắng chát trong người đọc khi cuốn sách đã gấp lại. Và cả sự suy tư trước một câu hỏi đã từng khiến hoàng tử Hamlet phải trăn trở: “Sống hay không sống?”.

Đại diện cho khả năng “sống”, đó là nhân vật Kazuko. Xuất thân gia đình quý tộc, được đào luyện trong môi trường giáo dục nghiêm cẩn và đậm chất quý phái, Kazuko mang trong mình đầy đủ những đặc tính của một tiểu thư khuê các: tâm hồn lãng mạn bay bổng, tinh tế và nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, ham đọc sách và ưa thích thưởng ngoạn nghệ thuật, có thể khóc bất cứ lúc nào trước những nghịch cảnh và nỗi đau khổ của kẻ khác… Có vẻ như Kazuko là một tồn tại mong manh, dễ vỡ. Nhưng, ở đằng sau và ở bên trong cái vẻ mong manh dễ vỡ ấy của Kazuko là cả một “khối sống” mạnh mẽ. Trong thời chiến, theo lệnh tổng động viên, cô gái quý tộc ấy có thể đào đất, vác đá, xẻ gỗ, làm mọi công việc nặng nhọc như mọi người khác. Sau thời chiến, gia cảnh sa sút, phải bán nhà ở thành phố để về nông thôn sinh sống, Kazuko cũng sẵn sàng làm tất cả những công việc đồng áng như mọi nông phu phải làm để duy trì cuộc sinh tồn của mình. Tuy nhiên, nếu chỉ là như vậy thì cái “khối sống” trong Kazuko chẳng khác là mấy so với cọng cỏ: tự nhiên phải sống, hễ còn có đất là còn sống, không cần đến bất cứ một thứ ý chí nào. Nhưng không chỉ là như vậy. Trong sự tự ý thức, “khối sống” của Kazuko là sống để xác thực triết lý của một triết gia cộng sản mà cô yêu thích, Rosa Luxemburg: “Con người được sinh ra vì tình yêu và cách mạng”. Với Kazuko, điều đó hiển nhiên mang ý nghĩa là: “Con người phải sống để chiến đấu vì tình yêu và cách mạng”. Cuộc cách mạng nào cho một cô gái quý tộc bần hàn như Kazuko, trong một đất nước Nhật Bản vừa thất trận nặng nề? Không gì cả, ngoại trừ một con đường, đó là cách mạng trong tình yêu cá nhân: sống để tuyên chiến với thứ đạo đức cổ hủ vẫn còn nguyên trong xã hội Nhật Bản lúc đó. Cô yêu và tự nguyện có con với nhà văn Uehara, một người lớn tuổi hơn cô rất nhiều, đã có gia đình, một ông già xấu xí cả về hình thức và tư cách, luôn bê bết say sưa tối ngày trong các tửu điếm.

Về phương diện nào đó, đây vừa là bi kịch, vừa là niềm tự hào của Kazuko, một cô gái chưa bao giờ quên nguồn gốc quý tộc của mình. Cô vừa yêu vừa không thôi ghê tởm Uehara, nhưng để thực hiện cuộc “cách mạng”, cô vẫn phải có sự thỏa hiệp. “Nếu như con người được sinh ra trong thế gian này dù thế nào đi nữa vẫn phải sống thì cái kiểu cách sống của mấy người này cũng không đáng ghét đâu. Sinh tồn à? Công cuộc sinh tồn, phải chăng đó là một đại nghiệp, cho dù ta sức cùng lực kiệt vẫn không thể nào hoàn thành?” (tr. 138). Đó là suy nghĩ của Kazuko khi cô tận mắt chứng kiến cảnh sống đầy nhếch nhác bợm bãi của Uehara và đám bạn rượu của ông ta. Trong bức thư cuối cùng gửi cho Uehara, khi đó Kazuko đã mang trong mình giọt máu của ông ta, cô viết: “Cách mạng vẫn chưa được tiến hành một chút nào cả. Và vẫn cần nhiều hơn nữa, thêm nữa những nạn nhân cao quý và đáng thương. Cái đẹp đẽ nhất trong cuộc đời chính là nạn nhân” (tr. 167, 168). Trở thành nạn nhân, thành vật hiến tế cho cuộc cách mạng của chính mình, là lý tưởng hay ảo tưởng? Dù sao chăng nữa, đó cũng chính là động lực cho “khối sống” của Kazuko trong bối cảnh của một cuộc sống thực tế đã trở nên quá đỗi khó sống.

Đại diện cho khả năng “không sống”, đó là nhân vật Naoji, em trai của Kazuko. Có thể nói một cách ngắn gọn: đây là mẫu hình nhân vật văn học Người xa lạ (L’etranger), nhưng theo kiểu Nhật Bản. Bởi lẽ, khác với nhân vật Meursault trong tiểu thuyết Người xa lạ của nhà văn Pháp Albert Camus - xa lạ với tất thảy nhân gian, dửng dưng với tất thảy từ đầu tới cuối, xa lạ và dửng dưng với chính bản thân mình, và chính vì thế mà anh ta chẳng quan tâm đến vấn đề tự tử hay không tự tử - nhân vật Naoji của Dazai Osamu vẫn còn có ít nhất một điều khiến anh phải chần chừ trước khi quyết định chấm dứt cuộc sống. Đó là bà mẹ. Naoji yêu mẹ, tất nhiên, vì bà đã sinh ra anh và là người luôn dành cho anh tình yêu thương và sự quan tâm sâu sắc nhất. Nhưng anh còn yêu, thậm chí yêu đến mức tôn thờ bà, ấy chính bởi bà là biểu tượng tuyệt hảo của “quý tộc tính”: Cao sang và tao nhã tuyệt đối, cao sang và tao nhã trong mọi hành động, mọi cử chỉ - từ cách húp thìa súp đến việc ngồi thụp xuống bụi cây để tiểu tiện - một cách tự nhiên, không hề có chút nào là cố gắng hoặc làm dáng.

Nói cách khác, với Naoji, “quý tộc tính” không phải một thứ đặc quyền giai cấp (hay là một thứ trang sức có thể mua được dù có nhiều tiền đến đâu chăng nữa) mà đó là một giá trị chuẩn mực của đời sống, một phẩm chất nhân cách đáng ngưỡng vọng. Khi bà mẹ chết - vì bệnh ho lao, mà thực chất là vì nghèo, không đủ tiền để thuốc men bồi bổ - với Naoji, đó cũng là cái chết của một biểu tượng, và anh chẳng còn lý do gì để mà luyến tiếc cuộc sống. Tuy nhiên, bức thư tuyệt mệnh của Naoji cho thấy, từ cái sống đến cái chết của anh không hề là một hành trình nhận thức đơn giản, một chiều. Thực chất, nó là một “đích lịch trình khổ nạn”. Bị cuốn theo ngọn triều dữ dội của tư tưởng dân chủ hóa, đã có lúc Naoji muốn xóa bỏ căn cước giai cấp và niềm xác tín của mình. Anh viết cho chị: “Em muốn trở nên đê tiện. Em muốn trở nên mạnh mẽ, không, trở nên cường bạo. Em nghĩ đó là con đường duy nhất để có thể trở thành bạn bè của những người thường dân kia… Em phải quên đi nhà mình. Phải phản kháng lại dòng máu của cha. Phải cự tuyệt sự dịu dàng của mẹ. Phải lạnh lùng với chị. Em nghĩ nếu mình không làm thế sẽ không kiếm được chiếc vé để bước vào phòng của những người thường dân kia” (tr. 150).

Và thực tế là Naoji đã làm đúng như thế, bằng cách giao lưu bù khú với những “thường dân”, như Uehara và đám bạn bè của ông ta, bằng cách lăn lóc trong những tửu điếm, nhà thổ và nha phiến. Nhưng kết quả không như mong đợi, sự “dấn thân” của Naoji chỉ là một công phu giả dối vụng về, nó khiến anh ngày một thêm căm ghét chính mình và ngày càng trở nên xa cách với nhân gian. Một mặt: “Đối với những thường dân mà nói, em chỉ là một gã kệch cỡm ngạo mạn làm bộ làm tịch mà thôi. Chưa bao giờ họ thấy thoải mái khi chơi với em cả”. Mặt khác: “Rồi còn những người được gọi là xuất chúng và cao quý cũng chán ghét hành vi của em và tẩy chay em” (tr. 150, 151). Theo cách tính toán ngộ nghĩnh và cũng đầy bi ai của Naoji, thì sự đê tiện của anh có sáu mươi phần trăm là phỉnh gạt tự tạo, bốn mươi phần trăm còn lại là đê tiện thật. Hãy chú ý tới tỷ lệ không hề là ngẫu nhiên. Nó nói lên rằng về cơ bản Naoji vẫn không ngừng tự ý thức về nguồn gốc của mình, không ngừng bám vào ý niệm “quý tộc tính” - “quý tộc tính” với anh không phải như một thứ đặc quyền giai cấp, mà là một phẩm chất nhân cách đáng ngưỡng vọng - cho dẫu anh luôn làm mọi việc - mà anh gọi là “đê tiện” - chỉ cốt để thoát khỏi cái bóng quý tộc nơi mình. Chính vì thế mà anh nhận ra một sự thật, ít nhất là một sự thật cho riêng mình, về câu nói: “Con người tất cả đều như nhau cả thôi”. Với anh, thoạt đầu thì đó là một câu nói “vô cùng kỳ bí”. Nhưng sau rốt, anh chia sẻ với chị trong di thư: “Tại sao lại nói là “như nhau”? Sao không nói là “ưu việt”? Chỉ là cuộc phục thù của bản tính nô lệ thôi. Tuy nhiên, câu nói này thực sự bỉ ổi và vô nghĩa. Nó đã làm cho con người sợ hãi nhau, mọi tư tưởng bị giam cầm, nỗ lực bị nhạo báng, hạnh phúc bị cự tuyệt, cái đẹp bị nhơ nhuốc, vinh quang bị chà đạp và em nghĩ cái gọi là nỗi bất an thế kỷ cũng xuất phát từ câu nói kỳ lạ này mà ra” (tr. 152, 153). (Ít nhiều, cách nghĩ này cũng khiến ta phải nhớ tới nhà quý tộc - học giả người Pháp Alexis de Tocqueville khi ông nhận định về mặt trái của nền dân trị: sự bạo ngược của số đông, cái khả năng khiến cho mọi cá thể người đều yếu đuối như nhau và xã hội không còn có thể sản sinh những nhân cách vĩ đại được nữa). Tự biết rằng dù có nỗ lực gồng mình lên đến mấy cũng không sao thỏa hiệp được với tư tưởng ấy, tư tưởng đang và sẽ còn thống trị thế giới này, Naoji quyết định lựa chọn khả năng “không sống”: Anh tự sát.

“Sống, hay không nên sống. Đó là vấn đề. Chịu đựng tất cả những viên đá, những mũi tên của số mệnh phũ phàng, hay là cầm vũ khí vùng lên mà chống lại những sóng gió của biển khổ, chống lại để mà diệt chúng đi, đằng nào cao quý hơn. Chết, là ngủ. Không hơn. Và tự nhủ rằng ngủ đi tức là chấm dứt mọi đau khổ của cõi lòng và muôn vàn vết tử thương mà hình hài phải chịu đựng, kết liễu cuộc đời như thế, chẳng đáng mong muốn sao?”. (Hamlet, bản dịch Việt ngữ của nhóm Đào Anh Kha, Bùi Ý, Bùi Phụng. NXB Văn học, 2008). Đoạn độc thoại bất hủ này của chàng hoàng tử giả điên Hamlet thực chất là một câu hỏi lớn mà hàng trăm năm nay vẫn cứ treo trong tâm thức nhân loại. Sau William Shakespeare (1564 - 1616), dường như mỗi thế hệ tác giả văn học, nhất là ở những nền văn học lớn, đều có những người đau đáu đi tìm đáp án cho câu hỏi này. Tà dương của Dazai Osamu, có lẽ là một kiểu câu trả lời, của ông và của cả một thế hệ nhà văn Nhật Bản đầy tài năng cùng thời với ông: “Sống” hay “không sống” đều là bi kịch đối với kiếp người.

Nhìn từ góc độ xã hội học thuần túy, người ta sẽ dễ cho rằng điều này phản ánh tâm trạng vỡ mộng và bế tắc đến cùng cực của một bộ phận nào đó người Nhật thời hậu chiến. Nhưng - có lẽ người viết bài này đã quá đơn giản hóa khi khái quát - vấn đề hình như không chỉ là thế. “Sống” hay “không sống” trong Tà dương còn là sự thức nhận về một nỗi đau trong đời sống tinh thần của thời hiện đại: Cái tầm thường (chứ không chỉ là cái giả dối, cái xấu, cái ác) đang bức tử cái cao nhã (chứ không chỉ là cái chân thực, cái đẹp, cái thiện). Đó là điều đáng nói nhất ở tiểu thuyết Tà dương, một tác phẩm dường như có rất ít điều để nói nếu nó chỉ được nhìn nhận ở góc độ lối viết, kỹ thuật viết

Hoài Nam

Các tin khác

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Bắc Cực, “nguồn nhiệt” cạnh tranh đang sôi dưới lớp băng

Băng đang tan nhanh hơn và Bắc Cực cũng “hiện ra” rõ hơn trong vị thế một trung tâm mới của cạnh tranh địa chính trị, nơi các cường quốc vừa ra sức tìm kiếm lợi ích kinh tế - an ninh cho riêng mình, vừa buộc phải hợp tác để bảo vệ một trong những “điểm tựa khí hậu” mong manh nhất của Trái đất.

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Tái thiết Syria: không chỉ là hàng trăm tỷ USD

Sau hơn 13 năm xung đột, con số cần để tái thiết một Syria đổ nát, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), có thể là 216 tỷ USD, hoặc lớn hơn rất nhiều. Nhưng với Syria, thách thức chính trị, kinh tế và an ninh đan xen chặt chẽ, và thành công của tiến trình chuyển tiếp sẽ phụ thuộc vào việc nước này có thể xây dựng được thể chế bao trùm, có tính chính danh, đồng thời ngăn chặn nguy cơ lún vào vòng xoáy bạo lực và chủ nghĩa chuyên chế hay không.

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Nước Đức lúng túng trong việc trấn áp tội phạm tài chính

Đức - nền kinh tế lớn nhất châu Âu, đang rất lúng túng trước làn sóng tội phạm tài chính gia tăng nhanh chóng. Tình trạng nghiêm trọng đến mức Hiệp hội Thẩm phán nước này mới đây phải lên tiếng cảnh báo, nếu không sớm có hành động hiệu quả, Đức sẽ trở thành “thiên đường cho tiền bẩn”.

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Giấc mộng Greenland và giới hạn quyền lực Mỹ

Greenland nhiều lần xuất hiện trong tầm ngắm chiến lược của Washington, từ những ý tưởng trao đổi lãnh thổ thời hậu Nội chiến Mỹ cho tới các toan tính địa chính trị công khai dưới thời Tổng thống Donald Trump. Ẩn sau lớp băng dày của hòn đảo là tiềm năng quân sự, nguồn tài nguyên khổng lồ và những tuyến hàng hải mới đang dần lộ diện. Nhưng cũng tại đó, tham vọng của Mỹ “va chạm” với giới hạn của tình đồng minh phương Tây, luật pháp quốc tế và của một Bắc Cực đang biến đổi nhanh hơn mọi tính toán chiến lược.

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Lợn chồng, lợn mồng lợn cuống

Trong Truyện Kiều, vì ghen nên Hoạn Thư mắng Thúy Kiều:

Con này chẳng phải thiện nhân

Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng

Ta hiểu thế nào về từ lộn trong ngữ cảnh này?

Phỏng vấn một cái chén

Phỏng vấn một cái chén

PV: Sống cùng chị Chén quá nửa đời mà chưa được phỏng vấn chị lần nào. Xin chị giới thiệu bản thân với độc giả ngắn gọn nhất có thể!

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Lo cho dân sau nạn lụt năm Nhâm Thìn

Mùa thu năm Nhâm Thìn 1832, miền Bắc bị lũ lụt, mùa màng thất thu, dân nghèo xiêu tán, nhiều người dân tỉnh Hà Nội phải xiêu dạt kiếm ăn vào Thanh Hóa hay ra Hải Dương, Yên Quảng. Triều đình Vua Minh Mạng đã tiến hành nhiều biện pháp cứu trợ.

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Libya: khi hòa giải dân tộc kẹt giữa hai bờ quyền lực

Sau hơn một thập kỷ kể từ khi cựu lãnh đạo Muammar Gaddafi bị lật đổ năm 2011, Libya vẫn chưa thoát khỏi tình trạng chia cắt chính trị và bất ổn kéo dài. Quốc gia Bắc Phi này hiện tồn tại song song hai chính quyền đối lập, một là Chính phủ Đoàn kết Dân tộc (GNU) được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế công nhận, có trụ sở tại Tripoli, và Chính phủ Ổn định Quốc gia (GNS) ở miền Đông, gắn với Hạ viện Libya đặt tại Tobruk.

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Đừng để tàu cổ Cẩm An lại bị nhấn chìm dưới đáy biển

Gần cuối tháng 12/2023 và đầu tháng 11/2025, vì một sự may mắn nào đó, sóng biển đã hai lần làm lộ diện một phần lớn tàu cổ Cẩm An tại khu vực biển Thịnh Mỹ, phường Hội An Tây, TP Đà Nẵng. Nhưng sự may mắn ấy chưa được cấp thẩm quyền chớp lấy bởi đang vấp phải sự lừng khừng từ nhiều phía. Nếu không chủ động nắm bắt cơ hội do sóng biển hung dữ mang lại, một ngày không xa, tàu cổ Cẩm An mang chứa trong mình nhiều điều bí ẩn về lịch sử, văn hóa… sẽ lại bị nhấn chìm dưới đáy biển.

"Nhảy dù" giữa thời bình

"Nhảy dù" giữa thời bình

Trong các lực lượng tinh nhuệ thì lực lượng nhảy dù là đứng đầu. Tiền tuyến hậu phương sẽ mơ hồ bởi lính dù luôn xuất hiện sau lưng đối phương. Lính dù phải khỏe như hổ, nhanh như sóc, gan đầy mình, thần kinh thép, trí dũng song toàn… Tiêu chuẩn tuyển chọn rất cao.

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Xung quanh một di vật đá đầy bí hiểm ở di chỉ Vườn Chuối

Sau bao năm đối diện với không ít khó khăn, thử thách, thậm chí đôi lúc suýt rơi vào nguy cơ bị "khai tử" bởi dự án xây dựng hạ tầng giao thông, đô thị, đến nay di chỉ khảo cổ học Vườn Chuối (Hà Nội) đã chính thức được định danh là di tích cấp thành phố, mở ra nhiều hướng tiếp cận mới từ góc độ nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản.

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Cuộc đối thoại về ký ức đô thị

Nếu họa sĩ Nguyễn Thế Sơn kể chuyện Hà Nội bằng nhiếp ảnh phù điêu thì kiến trúc sư Trần Huy Ánh tiếp cận thành phố bằng trực giác của người “khảo cổ” đô thị. Cuộc đối thoại về những ký ức đô thị trong triển lãm “Những ngã rẽ” đang diễn ra ở ngôi biệt thự Pháp cổ ở Hà Nội gợi mở nhiều suy tư về hồn cốt của đô thị, về di sản trong cơn lốc đô thị hóa hiện nay.

Nga nhận "món quà lớn" từ cựu thù

Nga nhận "món quà lớn" từ cựu thù

Mối quan hệ Nga - Syria đang bước vào một giai đoạn mới, khi chuyến thăm mới nhất của Tổng thống lâm thời Syria tới Moscow đi cùng những cam kết được đánh giá là "món quà địa chính trị" dành cho Điện Kremlin. Trong bối cảnh các cục diện quyền lực ở Trung Đông tiếp tục dịch chuyển, những thỏa thuận này không chỉ mang ý nghĩa song phương mà còn phản ánh chiến lược dài hơi của Moscow trong việc củng cố vị thế khu vực và đối trọng ảnh hưởng phương Tây.

Gaza, nơi sự thật bị chôn vùi dưới bom đạn

Gaza, nơi sự thật bị chôn vùi dưới bom đạn

Chưa từng có cuộc chiến nào trong lịch sử hiện đại lại cướp đi mạng sống của nhiều nhà báo như ở Gaza. Chỉ trong 2 năm, hơn 200 phóng viên và nhân viên truyền thông đã ngã xuống, biến vùng đất nhỏ bé ven Địa Trung Hải thành nơi nguy hiểm nhất hành tinh cho tự do báo chí. Không chỉ là chết chóc, Gaza còn là minh chứng cho một sự thật đáng sợ khác: khi nhà báo bị giết, thế giới sẽ bị tước đoạt quyền được biết.

Nước Anh có thực sự bị “xâm lược”?

Nước Anh có thực sự bị “xâm lược”?

Cuộc biểu tình với hơn 100.000 người tham gia tại London vừa qua đánh dấu bước ngoặt mới của phe cực hữu trong việc đưa vấn đề nhập cư thành trung tâm chú ý trên chính trường Anh. Mặc dù những người biểu tình khẳng định đất nước đang "bị xâm lược", nhưng đằng sau những khẩu hiệu mạnh mẽ ấy là gì? Liệu đó có phải là sự thật hay chỉ là chiến lược chính trị của một phong trào đang lớn mạnh?

Hai câu hỏi từ vụ học sinh hành hung giáo viên

Hai câu hỏi từ vụ học sinh hành hung giáo viên

"Buồn" và "shock" là những gì mà cộng đồng nhận xét về vụ nam sinh lớp 7 túm tóc, nhấn đầu cô giáo ngay trong lớp học ở trường THCS Đại Kim, Định Công, Hà Nội. Trớ trêu thay, vụ việc đó lại xảy ra ngay sau khi Thông tư 19 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về khen thưởng và xử phạt học sinh vừa được ban hành.

Bạn thân yêu

Bạn thân yêu

Ta thường nghe câu "Đời chẳng ai cho không ai cái gì bao giờ". Thế mà có những mối quan hệ người trao đi không hy vọng gì nhận lại, bởi hoàn cảnh người nhận như tận cùng của hoạn nạn.

Phỏng vấn một KOL

Phỏng vấn một KOL

PV: Xin chào anh KOL! Anh cho độc giả một hình dung ngắn gọn về công việc của mình được chứ?