Văn nghiệp của Dazai Osamu không đồ sộ như nhiều nhà văn Nhật Bản khác, nhưng may mắn thay, lại có những tác phẩm để đời. Tà dương (Hoàng Long dịch, Phương Nam Book và NXB Hội nhà văn, 2012), cuốn tiểu thuyết được xuất bản năm 1947 - một năm trước khi ông tự sát - là tác phẩm được giới nghiên cứu văn học cả trong và ngoài Nhật Bản đánh giá rất cao. Chính từ cuốn tiểu thuyết này mà trong từ điển tiếng Nhật đã xuất hiện thêm một từ, bây giờ vẫn lưu hành: “Tà dương tộc” - dùng để chỉ sự sa sút của giai cấp thượng lưu vì một biến chuyển gấp gáp của xã hội.
Tà dương, thứ ánh sáng heo hắt trong khoảnh khắc suy tàn của một ngày để rồi bóng tối ập xuống ngay sau đó, là hình ảnh biểu đạt chính xác tình cảnh của gia đình tiểu thư Kazuko, nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” trong tiểu thuyết, cũng là tình cảnh xuống dốc nhanh dần đều của tầng lớp quý tộc Nhật Bản ngay sau khi nước Nhật thất trận. Gia đình Kazuko gồm ba người: bà mẹ, Kazuko, và cậu em trai Naoji. Ba nhân vật tiểu thuyết, ba số phận cuộc đời nhuốm màu của tà dương theo những cách khác nhau, nhưng đều để lại dư vị đắng chát trong người đọc khi cuốn sách đã gấp lại. Và cả sự suy tư trước một câu hỏi đã từng khiến hoàng tử Hamlet phải trăn trở: “Sống hay không sống?”.
Văn nghiệp của Dazai Osamu không đồ sộ như nhiều nhà văn Nhật Bản khác, nhưng may mắn thay, lại có những tác phẩm để đời. Tà dương (Hoàng Long dịch, Phương Nam Book và NXB Hội nhà văn, 2012), cuốn tiểu thuyết được xuất bản năm 1947 - một năm trước khi ông tự sát - là tác phẩm được giới nghiên cứu văn học cả trong và ngoài Nhật Bản đánh giá rất cao. Chính từ cuốn tiểu thuyết này mà trong từ điển tiếng Nhật đã xuất hiện thêm một từ, bây giờ vẫn lưu hành: “Tà dương tộc” - dùng để chỉ sự sa sút của giai cấp thượng lưu vì một biến chuyển gấp gáp của xã hội.
Tà dương, thứ ánh sáng heo hắt trong khoảnh khắc suy tàn của một ngày để rồi bóng tối ập xuống ngay sau đó, là hình ảnh biểu đạt chính xác tình cảnh của gia đình tiểu thư Kazuko, nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” trong tiểu thuyết, cũng là tình cảnh xuống dốc nhanh dần đều của tầng lớp quý tộc Nhật Bản ngay sau khi nước Nhật thất trận. Gia đình Kazuko gồm ba người: bà mẹ, Kazuko, và cậu em trai Naoji. Ba nhân vật tiểu thuyết, ba số phận cuộc đời nhuốm màu của tà dương theo những cách khác nhau, nhưng đều để lại dư vị đắng chát trong người đọc khi cuốn sách đã gấp lại. Và cả sự suy tư trước một câu hỏi đã từng khiến hoàng tử Hamlet phải trăn trở: “Sống hay không sống?”.
Văn nghiệp của Dazai Osamu không đồ sộ như nhiều nhà văn Nhật Bản khác, nhưng may mắn thay, lại có những tác phẩm để đời. Tà dương (Hoàng Long dịch, Phương Nam Book và NXB Hội nhà văn, 2012), cuốn tiểu thuyết được xuất bản năm 1947 - một năm trước khi ông tự sát - là tác phẩm được giới nghiên cứu văn học cả trong và ngoài Nhật Bản đánh giá rất cao. Chính từ cuốn tiểu thuyết này mà trong từ điển tiếng Nhật đã xuất hiện thêm một từ, bây giờ vẫn lưu hành: “Tà dương tộc” - dùng để chỉ sự sa sút của giai cấp thượng lưu vì một biến chuyển gấp gáp của xã hội.
Tà dương, thứ ánh sáng heo hắt trong khoảnh khắc suy tàn của một ngày để rồi bóng tối ập xuống ngay sau đó, là hình ảnh biểu đạt chính xác tình cảnh của gia đình tiểu thư Kazuko, nhân vật người kể chuyện xưng “tôi” trong tiểu thuyết, cũng là tình cảnh xuống dốc nhanh dần đều của tầng lớp quý tộc Nhật Bản ngay sau khi nước Nhật thất trận. Gia đình Kazuko gồm ba người: bà mẹ, Kazuko, và cậu em trai Naoji. Ba nhân vật tiểu thuyết, ba số phận cuộc đời nhuốm màu của tà dương theo những cách khác nhau, nhưng đều để lại dư vị đắng chát trong người đọc khi cuốn sách đã gấp lại. Và cả sự suy tư trước một câu hỏi đã từng khiến hoàng tử Hamlet phải trăn trở: “Sống hay không sống?”.
Đại diện cho khả năng “sống”, đó là nhân vật Kazuko. Xuất thân gia đình quý tộc, được đào luyện trong môi trường giáo dục nghiêm cẩn và đậm chất quý phái, Kazuko mang trong mình đầy đủ những đặc tính của một tiểu thư khuê các: tâm hồn lãng mạn bay bổng, tinh tế và nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, ham đọc sách và ưa thích thưởng ngoạn nghệ thuật, có thể khóc bất cứ lúc nào trước những nghịch cảnh và nỗi đau khổ của kẻ khác… Có vẻ như Kazuko là một tồn tại mong manh, dễ vỡ. Nhưng, ở đằng sau và ở bên trong cái vẻ mong manh dễ vỡ ấy của Kazuko là cả một “khối sống” mạnh mẽ. Trong thời chiến, theo lệnh tổng động viên, cô gái quý tộc ấy có thể đào đất, vác đá, xẻ gỗ, làm mọi công việc nặng nhọc như mọi người khác. Sau thời chiến, gia cảnh sa sút, phải bán nhà ở thành phố để về nông thôn sinh sống, Kazuko cũng sẵn sàng làm tất cả những công việc đồng áng như mọi nông phu phải làm để duy trì cuộc sinh tồn của mình. Tuy nhiên, nếu chỉ là như vậy thì cái “khối sống” trong Kazuko chẳng khác là mấy so với cọng cỏ: tự nhiên phải sống, hễ còn có đất là còn sống, không cần đến bất cứ một thứ ý chí nào. Nhưng không chỉ là như vậy. Trong sự tự ý thức, “khối sống” của Kazuko là sống để xác thực triết lý của một triết gia cộng sản mà cô yêu thích, Rosa Luxemburg: “Con người được sinh ra vì tình yêu và cách mạng”. Với Kazuko, điều đó hiển nhiên mang ý nghĩa là: “Con người phải sống để chiến đấu vì tình yêu và cách mạng”. Cuộc cách mạng nào cho một cô gái quý tộc bần hàn như Kazuko, trong một đất nước Nhật Bản vừa thất trận nặng nề? Không gì cả, ngoại trừ một con đường, đó là cách mạng trong tình yêu cá nhân: sống để tuyên chiến với thứ đạo đức cổ hủ vẫn còn nguyên trong xã hội Nhật Bản lúc đó. Cô yêu và tự nguyện có con với nhà văn Uehara, một người lớn tuổi hơn cô rất nhiều, đã có gia đình, một ông già xấu xí cả về hình thức và tư cách, luôn bê bết say sưa tối ngày trong các tửu điếm.
Về phương diện nào đó, đây vừa là bi kịch, vừa là niềm tự hào của Kazuko, một cô gái chưa bao giờ quên nguồn gốc quý tộc của mình. Cô vừa yêu vừa không thôi ghê tởm Uehara, nhưng để thực hiện cuộc “cách mạng”, cô vẫn phải có sự thỏa hiệp. “Nếu như con người được sinh ra trong thế gian này dù thế nào đi nữa vẫn phải sống thì cái kiểu cách sống của mấy người này cũng không đáng ghét đâu. Sinh tồn à? Công cuộc sinh tồn, phải chăng đó là một đại nghiệp, cho dù ta sức cùng lực kiệt vẫn không thể nào hoàn thành?” (tr. 138). Đó là suy nghĩ của Kazuko khi cô tận mắt chứng kiến cảnh sống đầy nhếch nhác bợm bãi của Uehara và đám bạn rượu của ông ta. Trong bức thư cuối cùng gửi cho Uehara, khi đó Kazuko đã mang trong mình giọt máu của ông ta, cô viết: “Cách mạng vẫn chưa được tiến hành một chút nào cả. Và vẫn cần nhiều hơn nữa, thêm nữa những nạn nhân cao quý và đáng thương. Cái đẹp đẽ nhất trong cuộc đời chính là nạn nhân” (tr. 167, 168). Trở thành nạn nhân, thành vật hiến tế cho cuộc cách mạng của chính mình, là lý tưởng hay ảo tưởng? Dù sao chăng nữa, đó cũng chính là động lực cho “khối sống” của Kazuko trong bối cảnh của một cuộc sống thực tế đã trở nên quá đỗi khó sống.
Đại diện cho khả năng “không sống”, đó là nhân vật Naoji, em trai của Kazuko. Có thể nói một cách ngắn gọn: đây là mẫu hình nhân vật văn học Người xa lạ (L’etranger), nhưng theo kiểu Nhật Bản. Bởi lẽ, khác với nhân vật Meursault trong tiểu thuyết Người xa lạ của nhà văn Pháp Albert Camus - xa lạ với tất thảy nhân gian, dửng dưng với tất thảy từ đầu tới cuối, xa lạ và dửng dưng với chính bản thân mình, và chính vì thế mà anh ta chẳng quan tâm đến vấn đề tự tử hay không tự tử - nhân vật Naoji của Dazai Osamu vẫn còn có ít nhất một điều khiến anh phải chần chừ trước khi quyết định chấm dứt cuộc sống. Đó là bà mẹ. Naoji yêu mẹ, tất nhiên, vì bà đã sinh ra anh và là người luôn dành cho anh tình yêu thương và sự quan tâm sâu sắc nhất. Nhưng anh còn yêu, thậm chí yêu đến mức tôn thờ bà, ấy chính bởi bà là biểu tượng tuyệt hảo của “quý tộc tính”: Cao sang và tao nhã tuyệt đối, cao sang và tao nhã trong mọi hành động, mọi cử chỉ - từ cách húp thìa súp đến việc ngồi thụp xuống bụi cây để tiểu tiện - một cách tự nhiên, không hề có chút nào là cố gắng hoặc làm dáng.
Nói cách khác, với Naoji, “quý tộc tính” không phải một thứ đặc quyền giai cấp (hay là một thứ trang sức có thể mua được dù có nhiều tiền đến đâu chăng nữa) mà đó là một giá trị chuẩn mực của đời sống, một phẩm chất nhân cách đáng ngưỡng vọng. Khi bà mẹ chết - vì bệnh ho lao, mà thực chất là vì nghèo, không đủ tiền để thuốc men bồi bổ - với Naoji, đó cũng là cái chết của một biểu tượng, và anh chẳng còn lý do gì để mà luyến tiếc cuộc sống. Tuy nhiên, bức thư tuyệt mệnh của Naoji cho thấy, từ cái sống đến cái chết của anh không hề là một hành trình nhận thức đơn giản, một chiều. Thực chất, nó là một “đích lịch trình khổ nạn”. Bị cuốn theo ngọn triều dữ dội của tư tưởng dân chủ hóa, đã có lúc Naoji muốn xóa bỏ căn cước giai cấp và niềm xác tín của mình. Anh viết cho chị: “Em muốn trở nên đê tiện. Em muốn trở nên mạnh mẽ, không, trở nên cường bạo. Em nghĩ đó là con đường duy nhất để có thể trở thành bạn bè của những người thường dân kia… Em phải quên đi nhà mình. Phải phản kháng lại dòng máu của cha. Phải cự tuyệt sự dịu dàng của mẹ. Phải lạnh lùng với chị. Em nghĩ nếu mình không làm thế sẽ không kiếm được chiếc vé để bước vào phòng của những người thường dân kia” (tr. 150).
Và thực tế là Naoji đã làm đúng như thế, bằng cách giao lưu bù khú với những “thường dân”, như Uehara và đám bạn bè của ông ta, bằng cách lăn lóc trong những tửu điếm, nhà thổ và nha phiến. Nhưng kết quả không như mong đợi, sự “dấn thân” của Naoji chỉ là một công phu giả dối vụng về, nó khiến anh ngày một thêm căm ghét chính mình và ngày càng trở nên xa cách với nhân gian. Một mặt: “Đối với những thường dân mà nói, em chỉ là một gã kệch cỡm ngạo mạn làm bộ làm tịch mà thôi. Chưa bao giờ họ thấy thoải mái khi chơi với em cả”. Mặt khác: “Rồi còn những người được gọi là xuất chúng và cao quý cũng chán ghét hành vi của em và tẩy chay em” (tr. 150, 151). Theo cách tính toán ngộ nghĩnh và cũng đầy bi ai của Naoji, thì sự đê tiện của anh có sáu mươi phần trăm là phỉnh gạt tự tạo, bốn mươi phần trăm còn lại là đê tiện thật. Hãy chú ý tới tỷ lệ không hề là ngẫu nhiên. Nó nói lên rằng về cơ bản Naoji vẫn không ngừng tự ý thức về nguồn gốc của mình, không ngừng bám vào ý niệm “quý tộc tính” - “quý tộc tính” với anh không phải như một thứ đặc quyền giai cấp, mà là một phẩm chất nhân cách đáng ngưỡng vọng - cho dẫu anh luôn làm mọi việc - mà anh gọi là “đê tiện” - chỉ cốt để thoát khỏi cái bóng quý tộc nơi mình. Chính vì thế mà anh nhận ra một sự thật, ít nhất là một sự thật cho riêng mình, về câu nói: “Con người tất cả đều như nhau cả thôi”. Với anh, thoạt đầu thì đó là một câu nói “vô cùng kỳ bí”. Nhưng sau rốt, anh chia sẻ với chị trong di thư: “Tại sao lại nói là “như nhau”? Sao không nói là “ưu việt”? Chỉ là cuộc phục thù của bản tính nô lệ thôi. Tuy nhiên, câu nói này thực sự bỉ ổi và vô nghĩa. Nó đã làm cho con người sợ hãi nhau, mọi tư tưởng bị giam cầm, nỗ lực bị nhạo báng, hạnh phúc bị cự tuyệt, cái đẹp bị nhơ nhuốc, vinh quang bị chà đạp và em nghĩ cái gọi là nỗi bất an thế kỷ cũng xuất phát từ câu nói kỳ lạ này mà ra” (tr. 152, 153). (Ít nhiều, cách nghĩ này cũng khiến ta phải nhớ tới nhà quý tộc - học giả người Pháp Alexis de Tocqueville khi ông nhận định về mặt trái của nền dân trị: sự bạo ngược của số đông, cái khả năng khiến cho mọi cá thể người đều yếu đuối như nhau và xã hội không còn có thể sản sinh những nhân cách vĩ đại được nữa). Tự biết rằng dù có nỗ lực gồng mình lên đến mấy cũng không sao thỏa hiệp được với tư tưởng ấy, tư tưởng đang và sẽ còn thống trị thế giới này, Naoji quyết định lựa chọn khả năng “không sống”: Anh tự sát.
“Sống, hay không nên sống. Đó là vấn đề. Chịu đựng tất cả những viên đá, những mũi tên của số mệnh phũ phàng, hay là cầm vũ khí vùng lên mà chống lại những sóng gió của biển khổ, chống lại để mà diệt chúng đi, đằng nào cao quý hơn. Chết, là ngủ. Không hơn. Và tự nhủ rằng ngủ đi tức là chấm dứt mọi đau khổ của cõi lòng và muôn vàn vết tử thương mà hình hài phải chịu đựng, kết liễu cuộc đời như thế, chẳng đáng mong muốn sao?”. (Hamlet, bản dịch Việt ngữ của nhóm Đào Anh Kha, Bùi Ý, Bùi Phụng. NXB Văn học, 2008). Đoạn độc thoại bất hủ này của chàng hoàng tử giả điên Hamlet thực chất là một câu hỏi lớn mà hàng trăm năm nay vẫn cứ treo trong tâm thức nhân loại. Sau William Shakespeare (1564 - 1616), dường như mỗi thế hệ tác giả văn học, nhất là ở những nền văn học lớn, đều có những người đau đáu đi tìm đáp án cho câu hỏi này. Tà dương của Dazai Osamu, có lẽ là một kiểu câu trả lời, của ông và của cả một thế hệ nhà văn Nhật Bản đầy tài năng cùng thời với ông: “Sống” hay “không sống” đều là bi kịch đối với kiếp người.
Nhìn từ góc độ xã hội học thuần túy, người ta sẽ dễ cho rằng điều này phản ánh tâm trạng vỡ mộng và bế tắc đến cùng cực của một bộ phận nào đó người Nhật thời hậu chiến. Nhưng - có lẽ người viết bài này đã quá đơn giản hóa khi khái quát - vấn đề hình như không chỉ là thế. “Sống” hay “không sống” trong Tà dương còn là sự thức nhận về một nỗi đau trong đời sống tinh thần của thời hiện đại: Cái tầm thường (chứ không chỉ là cái giả dối, cái xấu, cái ác) đang bức tử cái cao nhã (chứ không chỉ là cái chân thực, cái đẹp, cái thiện). Đó là điều đáng nói nhất ở tiểu thuyết Tà dương, một tác phẩm dường như có rất ít điều để nói nếu nó chỉ được nhìn nhận ở góc độ lối viết, kỹ thuật viết