Từ yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc làm rõ “hình hài của một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI”, có thể thấy biển không chỉ là không gian kinh tế hay nguồn tài nguyên để khai thác, mà còn là không gian sinh tồn, không gian chủ quyền, không gian văn hóa, không gian hội nhập và là tuyến đầu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Nhìn biển trong tầm nhìn an ninh và phát triển quốc gia chính là nhìn thấy tương lai đất nước từ chiều sâu đại dương, nơi mỗi con sóng đều gắn với sinh kế nhân dân, lợi ích quốc gia và chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Biển - không gian chiến lược của chủ quyền, an ninh và phát triển
Việt Nam là một quốc gia biển. Điều đó không chỉ được khẳng định bởi đường bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km², hàng nghìn đảo lớn nhỏ cùng hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thiêng liêng, mà còn được chứng thực bằng lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Từ rất sớm, biển đã hiện diện trong đời sống người Việt như một không gian mở cõi, giao thương, mưu sinh, bảo vệ chủ quyền và tiếp nhận văn minh. Biển không chỉ đem lại cá tôm, muối mặn, gió lành, những chuyến tàu, những thương cảng, mà còn góp phần hình thành bản lĩnh, khí chất và khát vọng vươn xa của dân tộc.
Trong tâm thức Việt Nam, biển không bao giờ chỉ là nước. Biển là ký ức của những đội hùng binh Hoàng Sa, Bắc Hải. Biển là tiếng chuông chùa trên đảo, là lễ hội cầu ngư, là tín ngưỡng thờ cá Ông, là những tri thức dân gian về con nước, luồng cá, mùa gió. Biển là những làng chài bám đất, bám cát, bám sóng qua bao đời. Biển là hình ảnh người lính nơi đảo xa, là ngọn hải đăng trong đêm, là những con tàu vươn khơi bền bỉ giữa trùng dương. Biển cũng là niềm tự hào và trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam đối với chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Chính vì vậy, khi nói đến biển trong thế kỷ XXI, chúng ta không thể chỉ nói đến một vài ngành kinh tế biển theo nghĩa hẹp. Biển phải được đặt trong tầm nhìn tổng thể về an ninh và phát triển quốc gia. Một quốc gia biển mạnh không chỉ là quốc gia có nhiều cảng biển, đội tàu lớn, sản lượng thủy sản cao hay những đô thị ven biển sầm uất. Quốc gia biển mạnh phải là quốc gia có năng lực quản trị biển hiện đại, kinh tế biển xanh, khoa học công nghệ biển tiên tiến, thế trận quốc phòng - an ninh vững chắc, cư dân biển đủ sinh kế và niềm tin, môi trường biển được bảo vệ, chủ quyền biển đảo được giữ vững, văn hóa biển được trao truyền và phát huy. Đây chính là điểm đổi mới căn bản trong tư duy phát triển biển hiện nay.
Chúng ta cần chuyển từ cách nhìn biển như một “nguồn lợi” sang cách nhìn biển như một “không gian chiến lược”.
Trong không gian ấy, phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ chủ quyền; khai thác tài nguyên phải gắn với bảo tồn hệ sinh thái; mở rộng giao thương phải gắn với an ninh hàng hải; xây dựng đô thị biển phải gắn với bảo vệ ký ức văn hóa; phát triển du lịch biển phải gắn với sinh kế cộng đồng; hội nhập quốc tế phải gắn với luật pháp quốc tế và lợi ích quốc gia.
Nhìn biển trong tầm nhìn an ninh quốc gia, trước hết là nhìn thấy vị trí đặc biệt của biển trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Biển là tuyến đầu, là không gian phòng thủ chiến lược, là nơi diễn ra nhiều thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.
Bên cạnh những vấn đề về chủ quyền, tranh chấp, vi phạm vùng biển, chúng ta còn đối mặt với tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu, khai thác thủy sản bất hợp pháp, ô nhiễm môi trường biển, rác thải nhựa đại dương, suy giảm nguồn lợi, thiên tai cực đoan, nước biển dâng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh chuỗi cung ứng và an ninh dữ liệu biển.
Những thách thức đó cho thấy bảo vệ biển hôm nay không chỉ là bảo vệ đường biên trên biển theo nghĩa truyền thống. Đó còn là bảo vệ an ninh con người, an ninh môi trường, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa và an ninh xã hội tại các vùng ven biển, hải đảo. Một cảng biển an toàn, một khu du lịch biển văn minh, một vùng biển không còn khai thác tận diệt, một cộng đồng ngư dân hiểu pháp luật và yên tâm bám biển, một hệ sinh thái rừng ngập mặn được hồi sinh, một địa bàn ven biển không còn tệ nạn, buôn lậu, tội phạm có tổ chức - tất cả đều là biểu hiện sinh động của an ninh biển trong thời đại mới.
Vì thế, phát triển biển và bảo vệ biển phải là một chỉnh thể thống nhất. Không thể có phát triển bền vững nếu chủ quyền bị đe dọa. Không thể có an ninh vững chắc nếu đời sống nhân dân vùng biển còn bấp bênh. Không thể bảo vệ biển chỉ bằng lực lượng chức năng nếu thiếu thế trận lòng dân. Không thể giữ biển lâu dài nếu thế hệ trẻ không được giáo dục đầy đủ về lịch sử, chủ quyền, văn hóa và trách nhiệm công dân đối với biển đảo.
Trong chỉnh thể đó, lực lượng quốc phòng, an ninh, biên phòng, cảnh sát biển, kiểm ngư, chính quyền cơ sở và cộng đồng ngư dân đều là những thành tố quan trọng của thế trận bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ biển. Nhưng sức mạnh bảo vệ biển không chỉ nằm ở tàu lớn, trang bị hiện đại hay các chốt tiền tiêu. Sức mạnh ấy còn nằm ở niềm tin của nhân dân, ở sự đồng thuận xã hội, ở sự hiểu biết pháp luật của ngư dân, ở những con tàu dân sự vươn khơi hợp pháp, ở từng làng chài yên bình, ở từng gia đình có con em gắn bó với biển, ở từng học sinh biết Hoàng Sa, Trường Sa là máu thịt của Tổ quốc.
Quản trị biển bằng pháp quyền, khoa học và thế trận lòng dân
Nhìn biển trong tầm nhìn phát triển quốc gia, chúng ta càng thấy rõ biển là một trong những không gian lớn nhất để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng hùng cường. Biển mở ra cơ hội phát triển cảng biển, logistics, vận tải hàng hải, năng lượng tái tạo ngoài khơi, du lịch biển, đô thị biển, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, công nghiệp đóng tàu, dịch vụ hậu cần nghề cá, nghiên cứu đại dương, công nghệ sinh học biển và nhiều ngành kinh tế mới. Nếu biết tổ chức tốt, biển có thể trở thành một cực tăng trưởng chiến lược, một không gian sáng tạo mới và một nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tuy nhiên, lợi thế biển chỉ trở thành sức mạnh biển khi được quản trị bằng tầm nhìn dài hạn và thể chế phù hợp. Thực tế thời gian qua cho thấy, chúng ta đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận trong phát triển kinh tế biển, nhưng cũng còn không ít hạn chế. Phát triển ở một số nơi còn phân tán, thiếu liên kết vùng, liên kết ngành. Hạ tầng biển chưa đồng bộ. Khoa học công nghệ biển chưa tương xứng với yêu cầu. Nhiều địa phương còn dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên và du lịch bất động sản ven biển. Ô nhiễm môi trường, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xung đột trong sử dụng không gian biển, tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang tạo sức ép ngày càng lớn.
Một bờ biển bị bê tông hóa quá mức có thể làm mất đi sức hấp dẫn lâu dài của du lịch. Một rạn san hô bị tàn phá có thể làm nghèo đi cả hệ sinh thái biển. Một vùng rừng ngập mặn bị thu hẹp có thể làm suy yếu lá chắn phòng chống thiên tai. Một làng chài bị xóa khỏi không gian đô thị có thể khiến một vùng biển mất đi ký ức và bản sắc. Những điều đó nhắc chúng ta rằng phát triển biển không thể chỉ chạy theo tốc độ, sản lượng, diện tích hay doanh thu trước mắt. Phát triển biển phải là phát triển bền vững, phát triển xanh, phát triển có văn hóa và phát triển trong khuôn khổ pháp quyền.
Vì vậy, yêu cầu rất quan trọng hiện nay là xây dựng văn hóa quản trị biển. Đó là cách một quốc gia ứng xử với biển bằng tầm nhìn dài hạn, bằng khoa học công nghệ, bằng pháp luật, bằng trách nhiệm sinh thái, bằng sự tham gia của người dân và bằng tình yêu Tổ quốc. Văn hóa quản trị biển đòi hỏi chúng ta không coi biển là kho tài nguyên vô tận, mà là không gian sống hữu hạn cần được bảo vệ, phục hồi và làm giàu. Không coi phát triển ven biển là cuộc chạy đua dự án, mà là quá trình kiến tạo những không gian đáng sống, an toàn, xanh, bản sắc và bền vững. Không coi ngư dân chỉ là lực lượng khai thác hải sản, mà là chủ thể của sinh kế, văn hóa và chủ quyền biển đảo.
Trong thế kỷ XXI, quản trị biển phải dựa trên dữ liệu và khoa học. Một không gian rộng lớn, phức tạp, biến động như biển không thể được quản lý hiệu quả bằng những dữ liệu rời rạc, thiếu liên thông. Chúng ta cần cơ sở dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số đại dương, hệ thống quan trắc môi trường biển, dữ liệu về nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học, dòng chảy, địa chất biển, năng lượng gió ngoài khơi, rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san hô, hoạt động tàu thuyền và các nguy cơ an ninh phi truyền thống trên biển. Chúng ta cần ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ vệ tinh, cảm biến, mô hình dự báo để quản lý không gian biển, cảnh báo thiên tai, kiểm soát ô nhiễm, giám sát khai thác và bảo vệ chủ quyền.
Không có dữ liệu, khó quy hoạch đúng. Không có khoa học, khó khai thác bền vững. Không có công nghệ, khó cạnh tranh trong các ngành kinh tế biển mới. Không có năng lực dự báo, chúng ta sẽ bị động trước biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm và những biến động phức tạp trên biển. Một quốc gia biển mạnh phải là quốc gia biết rõ biển của mình, hiểu sâu biển của mình và làm chủ tri thức về biển của mình.
Xây dựng kinh tế biển cần tuân thủ giới hạn sinh thái, tôn trọng sức chịu tải của hệ sinh thái biển. Ảnh minh họa
Cùng với khoa học công nghệ, kinh tế biển phải chuyển mạnh sang hướng xanh. Thế giới đang thay đổi rất nhanh với kinh tế carbon thấp, phát triển bền vững và mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Điều đó không chỉ là cam kết môi trường, mà còn là tiêu chuẩn cạnh tranh mới. Cảng biển trong tương lai không chỉ được đánh giá bằng lượng hàng hóa thông qua, mà còn bằng mức độ phát thải, khả năng sử dụng năng lượng sạch, hệ thống điện bờ cho tàu cập cảng, công nghệ tiết kiệm năng lượng và năng lực đáp ứng các chuẩn mực xanh quốc tế. Du lịch biển không chỉ hấp dẫn bởi bãi cát đẹp hay khách sạn sang trọng, mà còn bởi cách bảo vệ hệ sinh thái, tôn trọng cộng đồng địa phương, giảm rác thải nhựa và giữ được bản sắc văn hóa biển.
Điện gió ngoài khơi có thể trở thành ngành kinh tế biển mũi nhọn, vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, vừa tạo cực tăng trưởng mới. Nuôi trồng thủy sản cần chuyển từ khai thác tự nhiên sang công nghệ cao, sinh thái, tuần hoàn, xây dựng thương hiệu thủy sản xanh. Du lịch biển cần chuyển từ khai thác số lượng sang nâng cao chất lượng, từ du lịch đại trà sang du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa. Các hệ sinh thái như rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san hô cần được xem là “bể chứa carbon xanh”, là lá chắn tự nhiên, là nguồn lực sinh thái và là tài sản chiến lược của quốc gia.
Nhưng ở trung tâm của mọi tầm nhìn biển vẫn phải là con người. Một chiến lược biển dù hiện đại đến đâu cũng không thể thành công nếu người dân vùng biển không được hưởng lợi, nếu ngư dân vẫn bấp bênh sinh kế, nếu thanh niên ven biển thiếu cơ hội nghề nghiệp mới, nếu trẻ em trên đảo còn khó khăn trong tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa, công nghệ. Quốc gia biển mạnh không chỉ hiện diện trong những công trình hạ tầng lớn, mà còn trong từng mái nhà bình yên của cư dân ven biển, từng lớp học nơi đảo xa, từng làng chài được bảo tồn, từng lễ hội biển được trao truyền, từng con tàu vươn khơi đúng pháp luật và từng cộng đồng biết sống tốt hơn nhờ biển, cùng biển và vì biển.
Ở đây, văn hóa biển cần được coi là một nguồn lực phát triển và một thành tố quan trọng của thế trận lòng dân. Lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông, tri thức dân gian của ngư dân, ẩm thực biển, nghề truyền thống, làng chài, văn học nghệ thuật về biển đảo, giáo dục chủ quyền biển đảo trong nhà trường - tất cả đều góp phần tạo nên sức mạnh mềm của một quốc gia biển. Nếu chỉ phát triển hạ tầng mà quên văn hóa, chúng ta có thể có những đô thị ven biển hào nhoáng nhưng thiếu linh hồn. Nếu chỉ khai thác du lịch mà không bảo tồn cộng đồng, chúng ta có thể có những khu nghỉ dưỡng hiện đại nhưng đánh mất bản sắc. Nếu chỉ nói về chủ quyền bằng khẩu hiệu mà không nuôi dưỡng tình yêu biển đảo trong từng thế hệ trẻ, chúng ta khó tạo nên sức mạnh xã hội bền vững trong bảo vệ biển.
Từ thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có thể thấy yêu cầu đặt ra hôm nay là phải xây dựng một tầm nhìn biển mới, trong đó an ninh và phát triển không tách rời nhau.
Phát triển để tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ vững chắc chủ quyền để tạo môi trường hòa bình cho phát triển.
Kinh tế biển phải là kinh tế xanh. Quản trị biển phải là quản trị hiện đại. Văn hóa biển phải là sức mạnh mềm. Người dân vùng biển phải là trung tâm. Pháp quyền phải là nền tảng. Khoa học công nghệ phải là động lực. Chủ quyền quốc gia phải là nguyên tắc bất biến.
Biển đã nuôi dưỡng Việt Nam trong quá khứ. Biển đang mở ra cho Việt Nam những cơ hội lớn trong hiện tại. Và biển sẽ tiếp tục là một phần hình hài tương lai của đất nước nếu chúng ta biết nhìn biển bằng tầm nhìn an ninh và phát triển quốc gia, biết quản trị biển bằng trí tuệ, pháp quyền và văn hóa, biết làm giàu từ biển mà không làm nghèo biển, biết vươn ra biển lớn mà vẫn giữ vững từng tấc biển thiêng liêng của Tổ quốc. Khi ấy, Việt Nam không chỉ là quốc gia có biển, mà sẽ thực sự trở thành một quốc gia biển mạnh: xanh hơn, nhân văn hơn, thịnh vượng hơn và vững vàng hơn trước mọi sóng gió của thời đại.